Nghị định 116/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 08/4/2026, sửa đổi một loạt thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Nghị định tác động đến các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực in ấn, phát thanh - truyền hình trả tiền, đăng ký quyền tác giả và quyền liên quan, cung cấp dịch vụ internet và tên miền, phát hành trò chơi điện tử, điện ảnh, và kinh doanh karaoke, vũ trường.
Các thay đổi chính bao gồm rút ngắn nhiều thời hạn giải quyết hồ sơ (ví dụ thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký danh mục kênh chương trình phát thanh truyền hình giảm từ 24 xuống 20 ngày làm việc, thời hạn xử lý một số thủ tục về tên miền và nội dung trên mạng viễn thông di động cũng được rút ngắn), đơn giản hóa thành phần hồ sơ khi cơ quan nhà nước có thể khai thác dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và đăng ký doanh nghiệp (doanh nghiệp không phải nộp lại giấy tờ chứng minh nhân thân, đăng ký kinh doanh nếu dữ liệu đã sẵn có), và thay thế, bãi bỏ nhiều mẫu biểu, điều khoản không còn phù hợp tại các Nghị định số 60/2014, 06/2016, 144/2020, 17/2023, 76/2023, 147/2024, 131/2022 và 54/2019.
Doanh nghiệp đang hoạt động trong các lĩnh vực nêu trên nên cập nhật quy trình nộp hồ sơ, biểu mẫu và thời hạn xử lý mới để tránh chậm trễ khi làm thủ tục. Hồ sơ đã nộp trước ngày hiệu lực vẫn được giải quyết theo quy định cũ.
Phạm vi điều chỉnh
Nghị định số 116/2026/NĐ-CP ngày 02/4/2026 sửa đổi, bổ sung nhiều điều của các Nghị định có quy định thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 08 tháng 4 năm 2026.
Chương I - Hoạt động in (sửa đổi Nghị định 60/2014/NĐ-CP)
- Quy định lại thủ tục đăng ký hoạt động in: hồ sơ gồm tờ khai đăng ký và sơ yếu lý lịch người đại diện pháp luật/người đứng đầu cơ sở in.
- Cơ sở in có thể nộp hồ sơ trực tiếp, qua bưu chính hoặc trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia. Giấy xác nhận điện tử có giá trị pháp lý như bản giấy.
- Thời hạn cấp/cấp lại giấy xác nhận đăng ký hoạt động in: 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
- Quy định rõ các trường hợp và trình tự thu hồi giấy xác nhận đăng ký hoạt động in (không đáp ứng điều kiện, ngừng hoạt động trên 12 tháng, chấm dứt/giải thể/phá sản).
- Bãi bỏ Điều 12, Điều 13 và một số mẫu biểu cũ; thay thế Mẫu số 10 bằng mẫu mới.
Chương II - Dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền (sửa đổi Nghị định 06/2016/NĐ-CP)
- Rút ngắn nhiều thời hạn xử lý hồ sơ cấp phép: từ 24 xuống 20 ngày làm việc, từ 12 xuống 10 ngày làm việc, từ 16 xuống 11 ngày làm việc (tùy thủ tục).
- Doanh nghiệp muốn gia hạn Giấy phép phải nộp văn bản đề nghị 60 ngày trước ngày giấy phép hết hiệu lực.
- Hồ sơ đăng ký lần đầu danh mục nội dung trên dịch vụ truyền hình trả tiền được nộp trực tiếp, qua bưu chính hoặc trực tuyến; thời hạn xét cấp Giấy chứng nhận là 16 ngày làm việc.
- Bổ sung thủ tục thông báo thay đổi danh mục kênh chương trình (tối thiểu 10 ngày làm việc trước khi áp dụng danh mục mới), kèm mẫu thông báo mới (Mẫu số 01).
- Bãi bỏ một số điểm, khoản tại các Điều 15, 18, 20 liên quan đến điều kiện không còn cần thiết.
Chương III - Nghệ thuật biểu diễn (sửa đổi Nghị định 144/2020/NĐ-CP)
- Sửa đổi yêu cầu hồ sơ về kịch bản, danh mục tác phẩm gắn với tác giả (tác phẩm nước ngoài phải kèm bản dịch tiếng Việt).
- Thời hạn thẩm định, cấp văn bản chấp thuận tổ chức cuộc thi, liên hoan nghệ thuật: 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ; kết quả phải đăng tải trên hệ thống thông tin điện tử.
- Đơn giản hóa hồ sơ dự thi quốc tế (bãi bỏ một số giấy tờ không cần thiết).
Chương IV - Quyền tác giả, quyền liên quan (sửa đổi Nghị định 17/2023/NĐ-CP)
- Quy định rõ thời hạn xử lý: cấp mới 22 ngày làm việc, cấp lại 8 ngày làm việc, cấp đổi 13 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.
- Cho phép cơ quan tiếp nhận khai thác dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và đăng ký doanh nghiệp thay vì yêu cầu nộp bản sao căn cước/giấy đăng ký kinh doanh, trừ khi dữ liệu không đầy đủ hoặc không chính xác.
- Bãi bỏ một số điểm, khoản và Mẫu số 08 tại Phụ lục III không còn cần thiết.
Chương V - Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi Nghị định 76/2023/NĐ-CP)
- Đơn giản hóa hồ sơ của người đứng đầu cơ sở hỗ trợ phòng, chống bạo lực gia đình (miễn nộp giấy khám sức khỏe nếu khai thác được dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư).
- Rút ngắn thời hạn xử lý từ 10 xuống 06 ngày làm việc đối với một thủ tục liên quan.
Chương VI - Internet, tên miền, trò chơi điện tử (sửa đổi Nghị định 147/2024/NĐ-CP)
- Cập nhật thông tin bắt buộc khi đăng ký tên miền cho tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân, hộ kinh doanh (mã định danh điện tử, mã số thuế, thông tin người quản lý kỹ thuật...).
- Quy định điều kiện cấp phép cho tổ chức quản lý tên miền dùng chung cấp cao nhất mới.
- Thủ tục cấp phép mạng xã hội có lượng truy cập lớn: thời hạn nộp hồ sơ trong 60 ngày kể từ khi nhận thông báo, thời hạn xét cấp phép 22 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.
- Thời hạn Quyết định phát hành trò chơi điện tử G1 và Giấy xác nhận thông báo phát hành trò chơi G2/G3/G4 gắn với thời hạn văn bản thỏa thuận, tối đa 05 năm; bổ sung thủ tục khi văn bản thỏa thuận được gia hạn.
- Bãi bỏ yêu cầu Giấy chứng nhận đăng ký kết nối để cung cấp dịch vụ nội dung trên mạng viễn thông di động; giấy chứng nhận đã cấp theo quy định cũ hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định có hiệu lực.
- Rút ngắn một số thời hạn xử lý hồ sơ (từ 15 xuống 10 ngày, từ 30 xuống 15 ngày) và thay thế các Mẫu số 07, 19, 61; bãi bỏ 13 mẫu biểu không còn sử dụng.
Chương VII - Điện ảnh (sửa đổi Nghị định 131/2022/NĐ-CP)
- Rút ngắn thời hạn xử lý một thủ tục từ 15 xuống 10 ngày.
Chương VIII - Karaoke, vũ trường (sửa đổi Nghị định 54/2019/NĐ-CP)
- Bãi bỏ một số khoản điều kiện kinh doanh không còn phù hợp tại Điều 4, Điều 5 và Điều 10.
Hiệu lực và điều khoản chuyển tiếp
- Nghị định có hiệu lực từ ngày 08/4/2026.
- Hồ sơ đã nộp và đang được giải quyết trước ngày hiệu lực tiếp tục xử lý theo quy định cũ.
- Đối với thủ tục đã bị bãi bỏ nhưng đã nộp hồ sơ, cơ quan tiếp nhận phải thông báo và trả lại hồ sơ cho tổ chức, cá nhân.
- Giấy chứng nhận đăng ký kết nối cung cấp dịch vụ nội dung trên mạng viễn thông di động (cấp theo Nghị định 147/2024/NĐ-CP) hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực.