Nghị định số 133/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 06/4/2026, quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực, thay thế các quy định cũ để phù hợp với Luật Điện lực số 61/2024/QH15. Nghị định áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực điện lực tại Việt Nam, bao gồm các đơn vị phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, bán buôn và bán lẻ điện, cũng như khách hàng sử dụng điện. Mức phạt tiền tối đa là 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức cho mỗi hành vi vi phạm. Nghị định quy định chi tiết mức phạt cho từng nhóm hành vi: vi phạm về Giấy phép hoạt động điện lực (phạt đến 200 triệu đồng đối với tổ chức hoạt động không phép), vi phạm về phát triển điện mặt trời mái nhà và điện gió tự sản xuất tự tiêu thụ, vi phạm trong hoạt động phát điện, truyền tải, phân phối điện (thiết bị đo đếm không đạt chuẩn, không báo cáo thông tin vận hành), vi phạm về mua bán buôn và bán lẻ điện (bán sai giá, không ký hợp đồng đúng hạn, xuất nhập khẩu điện trái phép), và vi phạm về sử dụng điện của khách hàng (trộm cắp điện, tự ý đấu nối, cản trở kiểm tra). Ngoài phạt tiền, Nghị định còn áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm và các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp, buộc tháo dỡ công trình điện gió, điện mặt trời vi phạm, buộc khôi phục hiện trạng ban đầu. Đối với doanh nghiệp trong ngành điện (phát điện, truyền tải, phân phối, bán buôn, bán lẻ) đây là khung pháp lý quan trọng cần rà soát để tránh rủi ro bị xử phạt nặng và thu hồi giấy phép hoạt động. Đối với doanh nghiệp sử dụng điện thông thường, nội dung liên quan chủ yếu là quy định về sử dụng điện đúng mục đích, không can thiệp trái phép vào thiết bị đo đếm điện và hợp tác với việc kiểm tra sử dụng điện. Nghị định không liên quan đến thuế, kế toán, hóa đơn điện tử, lao động hay hải quan nên nằm ngoài phạm vi theo dõi trọng tâm của nền tảng.
Nghị định số 133/2026/NĐ-CP (ban hành ngày 06/4/2026, đăng Công báo số 237 ngày 21/4/2026) quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức phạt tiền, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và xử phạt trong lĩnh vực điện lực. Căn cứ ban hành gồm Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15, Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 (đã sửa đổi, bổ sung nhiều lần) và Luật Điện lực số 61/2024/QH15 (sửa đổi bởi Luật số 94/2025/QH15).
Đối tượng áp dụng gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có hành vi vi phạm trên lãnh thổ Việt Nam, kể cả cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị - xã hội, hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện thương nhân nước ngoài.
Phạt từ cảnh cáo đến 200 triệu đồng đối với tổ chức cho các hành vi như không lưu giữ giấy phép, chậm báo cáo, không làm thủ tục sửa đổi giấy phép, giả mạo hồ sơ xin cấp phép, cho thuê hoặc mượn giấy phép, hoạt động không phép hoặc hoạt động khi giấy phép đã hết hạn hay bị thu hồi. Mức phạt nặng nhất (170-200 triệu đồng) áp dụng cho hành vi hoạt động điện lực hoàn toàn không có giấy phép.
Phạt cảnh cáo đến 100 triệu đồng cho các vi phạm về thông báo phát triển nguồn điện, đăng ký, lắp đặt không đúng quy định tại các cấp điện áp khác nhau; mức cao nhất áp dụng cho việc không tháo dỡ nhà máy điện gió, điện mặt trời khi hết hạn hoặc vi phạm cam kết trong khảo sát, đầu tư điện gió ngoài khơi.
Phạt từ 10 triệu đến 150 triệu đồng đối với đơn vị phát điện, truyền tải điện, phân phối điện cho các vi phạm như không báo cáo hoặc báo cáo sai thông tin vận hành, sử dụng thiết bị đo đếm điện không đạt chuẩn kiểm định, đấu nối thiết bị không đúng kỹ thuật, không cung cấp dịch vụ theo cam kết, không bảo đảm chất lượng dịch vụ.
Phạt từ 10 triệu đến 180 triệu đồng đối với đơn vị bán buôn, bán lẻ điện cho các hành vi bán sai giá quy định, hợp đồng mua bán điện không tuân thủ quy định, đàm phán hợp đồng quá thời hạn, xuất nhập khẩu điện trái phép, lợi dụng nghề nghiệp sách nhiễu khách hàng, không ký hợp đồng đúng hạn với khách hàng sinh hoạt.
Phạt cá nhân và tổ chức sử dụng điện từ 3 triệu đến 80 triệu đồng cho các hành vi cản trở kiểm tra sử dụng điện, làm hư hỏng hệ thống điện của bên bán, sử dụng sai mục đích, tự ý đấu nối hoặc sửa chữa thiết bị điện, trộm cắp điện (4-20 triệu đồng tùy giá trị sản lượng trộm cắp, chuyển hồ sơ hình sự nếu giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc có tình tiết theo Điều 173 Bộ luật Hình sự), chủ nhà cho thuê thu tiền điện cao hơn quy định, khách hàng sử dụng điện lớn không tuân thủ lệnh điều độ hoặc không đầu tư thiết bị đo đếm theo yêu cầu.
Nghị định phân định thẩm quyền xử phạt cho Trưởng đoàn kiểm tra, Cục trưởng Cục Điện lực, Cục trưởng Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp (Bộ Công Thương), cùng lực lượng Công an các cấp (từ Công an cấp xã đến các Cục nghiệp vụ Bộ Công an), với mức phạt tối đa tương ứng từng cấp lên đến 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức. Nghị định cũng quy định việc xử lý vi phạm trên môi trường điện tử và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan cấp phép để xem xét thu hồi giấy phép hoạt động điện lực trong các trường hợp vi phạm nghiêm trọng.
Đây là văn bản chuyên ngành điện lực, chủ yếu tác động đến các đơn vị phát điện, truyền tải, phân phối, bán buôn, bán lẻ điện và khách hàng sử dụng điện lớn. Nghị định không có nội dung liên quan đến thuế, kế toán, hóa đơn điện tử, lao động hay hải quan.