Việt Nam đã ban hành Nghị định 252/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2026, sửa đổi quy định về tạm hoãn xuất cảnh đối với người nộp thuế có nợ thuế quá hạn. Nghị định này rút ngắn thời gian gỡ bỏ lệnh tạm hoãn xuất cảnh sau khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ, đồng thời quy định rõ ràng hơn các ngưỡng tiền tệ để áp dụng biện pháp này. Theo quy định mới, cá nhân và chủ hộ kinh doanh chỉ bị tạm hoãn xuất cảnh khi nợ thuế từ 50 triệu đồng trở lên và quá hạn từ 120 ngày trở lên. Đối với doanh nghiệp đang bị cưỡng chế thuế, ngưỡng áp dụng là 500 triệu đồng, và biện pháp này nay còn áp dụng cho cả chủ sở hữu hưởng lợi và người đại diện theo pháp luật, chứ không chỉ riêng doanh nghiệp. Cơ quan thuế phải thông báo điện tử trước ít nhất 30 ngày trước khi áp dụng tạm hoãn xuất cảnh, và khi người nộp thuế giảm nợ xuống dưới các ngưỡng này, hoặc nộp chứng từ nộp thuế điện tử, cơ quan thuế có thể gỡ bỏ biện pháp ngay lập tức thay vì trong thời hạn 24 giờ làm việc như trước đây. Đối với chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa, kế toán viên và nhà đầu tư nước ngoài, điều cần lưu ý là theo dõi sát nợ thuế còn tồn đọng, đặc biệt trước khi đi công tác nước ngoài, và lưu giữ chứng từ nộp thuế phòng trường hợp giao dịch chuyển khoản chưa được cập nhật trên hệ thống thuế. Doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký cũng được gia hạn 120 ngày để khôi phục mã số thuế hoặc hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế trước khi bị áp dụng hạn chế xuất cảnh. Người đại diện theo pháp luật và chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần đặc biệt lưu ý, vì biện pháp tạm hoãn xuất cảnh nay áp dụng trực tiếp đối với họ khi doanh nghiệp bị cưỡng chế thuế.
Nghị định 252/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2026, sửa đổi quy định về tạm hoãn xuất cảnh đối với người nộp thuế có nợ thuế. Nghị định này về cơ bản giữ nguyên khung quy định tại Nghị định 49/2025/NĐ-CP nhưng bổ sung một số sửa đổi để phù hợp với Luật Quản lý thuế 2025, trong đó có thủ tục nhanh hơn để gỡ bỏ hạn chế xuất cảnh cũng như các ngưỡng tiền tệ rõ ràng hơn để áp dụng biện pháp này.
Khi người nộp thuế đáp ứng điều kiện để được gỡ bỏ tạm hoãn xuất cảnh, cơ quan thuế nay phải ban hành thông báo hủy bỏ ngay lập tức và truyền thông báo điện tử đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Trước đây, cơ quan thuế có tối đa 24 giờ làm việc để ban hành thông báo sau khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ. Thời hạn rút ngắn này nhằm giảm bớt gián đoạn cho người đi công tác và cá nhân cần di chuyển gấp sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế.
Nghị định quy định rõ các điều kiện áp dụng tạm hoãn xuất cảnh:
Cơ quan thuế phải gửi thông báo điện tử trước ít nhất 30 ngày trước khi áp dụng tạm hoãn xuất cảnh.
Nghị định đưa ra cơ chế bảo vệ cho người nộp thuế đã nộp tiền nhưng chưa được cập nhật trên hệ thống điện tử của cơ quan thuế. Cơ quan thuế trực tiếp quản lý người nộp thuế chịu trách nhiệm ban hành, gia hạn và thu hồi thông báo tạm hoãn xuất cảnh. Trường hợp thông tin nộp thuế chưa được cập nhật, người nộp thuế có thể nộp chứng từ nộp thuế điện tử qua hệ thống quản lý thuế; cơ quan thuế sẽ xác minh thông tin và gỡ bỏ tạm hoãn xuất cảnh khi đủ điều kiện. Nếu người nộp thuế được chuyển sang cơ quan thuế khác quản lý, cơ quan thuế mới sẽ tiếp nhận trách nhiệm này.
Tạm hoãn xuất cảnh nay có thể được gỡ bỏ khi nợ thuế còn lại giảm xuống dưới các ngưỡng luật định, 50 triệu đồng đối với cá nhân và hộ kinh doanh, 500 triệu đồng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã, ngay cả khi nợ thuế chưa được thanh toán hết. Người nộp thuế cũng có thể nộp chứng từ nộp thuế điện tử nếu giao dịch chuyển khoản chưa được ghi nhận trên hệ thống. Đối với doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, hạn chế xuất cảnh có thể được gỡ bỏ khi khôi phục mã số thuế, hoàn tất kê khai thuế theo yêu cầu, giảm nợ thuế xuống dưới ngưỡng quy định, hoặc hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Nghị định giữ nguyên khung quy định cốt lõi về tạm hoãn xuất cảnh từ Nghị định 49/2025/NĐ-CP nhưng bổ sung một số thay đổi:
Doanh nghiệp và cá nhân nên:
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, quy định sửa đổi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hồ sơ đăng ký thuế chính xác và theo dõi tình trạng tuân thủ của người đại diện theo pháp luật và chủ sở hữu hưởng lợi, đặc biệt khi việc di chuyển qua biên giới là một phần hoạt động kinh doanh thông thường.