Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 35/2026/TT-BGDĐT ngày 21/4/2026, hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) đối với các dự án giáo dục phổ thông (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở). Thông tư không áp dụng cho lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên. Văn bản quy định cách tính các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án (giá trị hiện tại ròng kinh tế ENPV, tỷ số lợi ích trên chi phí BCR, tỷ suất nội hoàn kinh tế EIRR); khung lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư theo công thức i = iv + f (trong đó iv là lãi vay huy động vốn tham chiếu từ ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước, f là tỷ lệ lạm phát bình quân CPI 10 năm); các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công trình, cơ sở vật chất trường học do doanh nghiệp dự án cung cấp; và thời hạn trích khấu hao công trình hạ tầng đối với hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), áp dụng theo Thông tư số 23/2023/TT-BTC. Thông tư cũng hướng dẫn phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất lựa chọn nhà đầu tư (đấu thầu rộng rãi, đàm phán cạnh tranh, chỉ định nhà đầu tư, trường hợp đặc biệt), đồng thời ban hành mẫu hợp đồng BOT kèm theo. Có hiệu lực từ ngày 06/6/2026. Đối tượng chịu tác động chủ yếu là nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án (DNDA) tham gia đấu thầu các dự án xây dựng trường học theo phương thức PPP, không phải là quy định thuế, kế toán hay hóa đơn áp dụng chung cho doanh nghiệp SME.
Thông tư số 35/2026/TT-BGDĐT ngày 21/4/2026 do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn ký ban hành, hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Thông tư căn cứ Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư số 64/2020/QH14 (đã sửa đổi, bổ sung) và các Nghị định số 243/2025/NĐ-CP, số 312/2025/NĐ-CP.
Thông tư hướng dẫn: (i) nội dung trong báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi; (ii) phương pháp, tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu; và (iii) mẫu hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (hợp đồng BOT). Thông tư áp dụng cho các dự án PPP trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo (mầm non, phổ thông), không áp dụng cho giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên.
Dự án PPP giáo dục phải tính toán ba chỉ tiêu: giá trị hiện tại ròng kinh tế (ENPV), tỷ số lợi ích trên chi phí (BCR), và tỷ suất nội hoàn kinh tế (EIRR), theo mẫu tại Phụ lục I, II của Nghị định số 243/2025/NĐ-CP. Lợi ích kinh tế - xã hội được chia thành ba nhóm: có thể định lượng và quy đổi thành tiền (ví dụ tiết kiệm chi phí vận hành, chi phí đi lại, chi phí y tế); có thể định lượng nhưng không định giá (ví dụ tỷ lệ trẻ đến trường, kết quả học tập); và chỉ đo được bằng chỉ tiêu định tính (ví dụ nâng cao dân trí, bình đẳng giới, khả năng tiếp cận giáo dục cho nhóm yếu thế).
Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu tối đa được tính theo công thức i = iv + f, trong đó iv là lãi suất cho vay trung, dài hạn tham khảo từ ít nhất 3 ngân hàng thương mại có vốn nhà nước (xác định trong vòng 3 tháng trước khi lập báo cáo), f là tỷ lệ lạm phát bình quân CPI 10 năm gần nhất (loại trừ các năm biến động lớn). Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư trong phương án tài chính phải nằm trong khung: tối đa không vượt i, tối thiểu không thấp hơn iv. Khung này chỉ là cơ sở lập báo cáo nghiên cứu khả thi, không điều chỉnh quá trình lựa chọn nhà đầu tư.
Chỉ số đánh giá chất lượng công trình, cơ sở vật chất do doanh nghiệp dự án (DNDA) cung cấp bao gồm mức độ đáp ứng quy chuẩn thiết kế, xây dựng, khai thác, bảo trì (theo Điều 59 Luật PPP và Nghị định số 06/2021/NĐ-CP) và chất lượng sản phẩm, dịch vụ theo hợp đồng dự án. Phụ lục I của Thông tư liệt kê chi tiết tiêu chuẩn cơ sở vật chất cho từng cấp học (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở), dẫn chiếu các Thông tư số 13/2020/TT-BGDĐT, 23/2024/TT-BGDĐT, 14/2020/TT-BGDĐT, 16/2022/TT-BGDĐT về diện tích đất, số phòng học, phòng chức năng, tỷ lệ nhà vệ sinh, thư viện, hạ tầng kỹ thuật... Đối với hợp đồng BOT, thời hạn trích khấu hao công trình hạ tầng thực hiện theo Thông tư số 23/2023/TT-BTC của Bộ Tài chính về quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định.
Thông tư hướng dẫn đánh giá hồ sơ dự thầu/hồ sơ đề xuất theo từng hình thức lựa chọn nhà đầu tư: đấu thầu rộng rãi, đàm phán cạnh tranh (theo Điều 49 Nghị định số 243/2025/NĐ-CP); chỉ định nhà đầu tư (điểm d khoản 2 Điều 56); và trường hợp đặc biệt (Điều 57, 58). Phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá năng lực, kỹ thuật thực hiện theo Nghị định số 243/2025/NĐ-CP và Thông tư số 98/2025/TT-BTC. Về tài chính - thương mại, bên mời thầu chọn một trong các phương pháp so sánh, xếp hạng: theo giá/phí sản phẩm dịch vụ công thấp nhất; theo vốn nhà nước hỗ trợ xây dựng thấp nhất; theo lợi ích xã hội (mức nộp ngân sách cao nhất hoặc thời hạn hợp đồng ngắn nhất); hoặc kết hợp các tiêu chuẩn trên. Mẫu hợp đồng BOT được ban hành tại Phụ lục III của Thông tư; các loại hợp đồng khác áp dụng theo hướng dẫn tại Phụ lục III Nghị định số 243/2025/NĐ-CP.
Thông tư quy định xử lý chuyển tiếp cho các hồ sơ mời thầu đã phê duyệt nhưng chưa phát hành, đã phát hành nhưng chưa phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư, đã phê duyệt kết quả nhưng chưa ký hợp đồng, và các dự án đã ký hợp đồng trước ngày Thông tư có hiệu lực (tiếp tục thực hiện theo hợp đồng đã ký, các điều chỉnh sau này áp dụng theo Thông tư mới). Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 06 tháng 6 năm 2026.
Thông tư này chủ yếu tác động đến nhà đầu tư và doanh nghiệp dự án tham gia đấu thầu các dự án PPP xây dựng trường học (mầm non, tiểu học, THCS), không phải là văn bản về thuế GTGT, thuế TNDN, hóa đơn điện tử, lao động hay hải quan áp dụng chung cho doanh nghiệp SME.