Thông tư 83/2025/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Bài giải thích của RegHub - New MarketerCập nhật lần cuối:
Dựa trên:83/2025/TT-NHNN - Công báo Chính phủ
Bài giải thích này do AI tạo và được kiểm tra tự động bằng AI, chưa qua chuyên gia thẩm định. Đây không phải tư vấn pháp lý, thuế hay kế toán và có thể có sai sót. Vui lòng đối chiếu với văn bản chính thức trước khi áp dụng.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư 83/2025/TT-NHNN (ký ngày 31/12/2025), quy định toàn diện về hệ thống kiểm soát nội bộ áp dụng cho các ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Văn bản yêu cầu mỗi ngân hàng xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ theo mô hình «ba tuyến bảo vệ» độc lập: tuyến thứ nhất là các bộ phận kinh doanh trực tiếp tạo ra rủi ro, tuyến thứ hai là bộ phận tuân thủ và quản lý rủi ro toàn hàng, tuyến thứ ba là kiểm toán nội bộ. Thông tư quy định chi tiết việc quản lý các loại rủi ro trọng yếu (tín dụng, thị trường, hoạt động, thanh khoản, tập trung, lãi suất trên sổ ngân hàng, rủi ro mô hình), yêu cầu đánh giá nội bộ về mức đủ vốn (ICAAP), kiểm tra sức chịu đựng, và nghĩa vụ báo cáo định kỳ hằng năm cho Ngân hàng Nhà nước về kết quả kiểm soát, quản lý rủi ro và kiểm toán nội bộ, với thời hạn gửi báo cáo từ 60 đến 90 ngày sau khi kết thúc năm tài chính. Đây là văn bản quản lý nội bộ chuyên ngành ngân hàng, đặt ra nghĩa vụ trực tiếp cho ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài chứ không tạo ra nghĩa vụ tuân thủ mới cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh, cá nhân hay nhà đầu tư nước ngoài nói chung. Chủ doanh nghiệp và kế toán viên không cần thực hiện hành động gì theo Thông tư này; tác động (nếu có) chỉ mang tính gián tiếp thông qua việc ngân hàng thẩm định tín dụng chặt chẽ hơn.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư 83/2025/TT-NHNN (ban hành ngày 31/12/2025, đăng Công báo số 114 ngày 19/02/2026) quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Ngân hàng thương mại đang bị kiểm soát đặc biệt không phải tuân thủ Mục 9 Chương III của Thông tư.
Văn bản căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12, Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 96/2025/QH15) và Nghị định 26/2025/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước.
Yêu cầu chung đối với hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ của mỗi ngân hàng phải: tuân thủ Luật Các tổ chức tín dụng, Thông tư này và pháp luật liên quan; phù hợp với quy mô, tính chất, mức độ phức tạp trong kinh doanh; có đủ nguồn lực tài chính, con người, hệ thống thông tin; xây dựng và duy trì văn hóa kiểm soát; và có hệ thống thông tin quản lý bảo đảm độ tin cậy, đầy đủ, kịp thời.
Mô hình ba tuyến bảo vệ độc lập
- Tuyến thứ nhất: các bộ phận kinh doanh tạo ra doanh thu, thực hiện các quyết định có rủi ro, chịu trách nhiệm nhận dạng và kiểm soát rủi ro ngay tại nguồn.
- Tuyến thứ hai: tối thiểu gồm Bộ phận tuân thủ và Bộ phận quản lý rủi ro, xây dựng chính sách quản lý rủi ro và giám sát rủi ro toàn ngân hàng.
- Tuyến thứ ba: kiểm toán nội bộ, đánh giá độc lập hiệu quả của hai tuyến trên.
Riêng quản lý rủi ro mô hình áp dụng cơ chế ba tuyến bảo vệ riêng theo quy định chi tiết của Thông tư.
Cơ cấu tổ chức và cơ chế, chính sách nội bộ
Ngân hàng thương mại phải có Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, cùng các hội đồng giúp việc: Hội đồng rủi ro, Hội đồng quản lý Tài sản/Nợ phải trả (ALCO), Hội đồng quản lý vốn, và có thể lập thêm Hội đồng phê duyệt cấp tín dụng nếu cần. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài có cơ cấu đơn giản hơn, riêng kiểm toán nội bộ thực hiện theo quy định của ngân hàng mẹ.
Quy định nội bộ phải phân định rõ thẩm quyền quyết định theo mức độ rủi ro; thành viên Hội đồng quản trị không được tham gia phê duyệt quyết định có rủi ro thuộc thẩm quyền Tổng giám đốc (trừ trường hợp kiêm nhiệm và có biện pháp kiểm soát xung đột lợi ích); và bắt buộc phải có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp áp dụng cho toàn thể cán bộ, nhân viên.
Hệ thống thông tin quản lý
Ngân hàng phải thiết lập hệ thống thu thập, xử lý, lưu trữ và cung cấp thông tin phục vụ điều hành và ra quyết định, bao gồm hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống dự phòng chống gián đoạn, cơ chế bảo mật dữ liệu, và phải được rà soát, đánh giá lại tối thiểu mỗi năm một lần.
Báo cáo Ngân hàng Nhà nước
Mỗi năm, ngân hàng phải gửi bốn loại báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước: kết quả tự kiểm tra hoạt động kiểm soát, báo cáo quản lý rủi ro, báo cáo đánh giá nội bộ về mức đủ vốn (trong vòng 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính), và báo cáo kiểm toán nội bộ (trong vòng 60 ngày; báo cáo đột xuất trong 7 ngày làm việc kể từ khi kết thúc đợt kiểm toán). Hồ sơ, tài liệu liên quan phải được lưu trữ đầy đủ để phục vụ thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước.
Hoạt động kiểm soát và giám sát cấp cao
Hoạt động kiểm soát phải bao trùm mọi giao dịch, quy trình nghiệp vụ của ngân hàng; việc hạch toán kế toán phải được kiểm tra, đối chiếu để phát hiện, xử lý kịp thời sai sót; trụ sở chính phải giám sát được các chi nhánh, đơn vị phụ thuộc thông qua cơ chế báo cáo, nhân sự kiểm soát độc lập, không xung đột lợi ích với đơn vị được giám sát.
Quản lý các loại rủi ro trọng yếu
Thông tư yêu cầu quản lý đầy đủ các loại rủi ro trọng yếu gồm: rủi ro tín dụng (khách hàng và đối tác); rủi ro thị trường (lãi suất, ngoại hối, giá cổ phiếu, giá hàng hóa); rủi ro hoạt động; rủi ro thanh khoản; rủi ro tập trung; rủi ro lãi suất trên sổ ngân hàng (gồm rủi ro chênh lệch, rủi ro cơ sở, rủi ro quyền chọn); và rủi ro mô hình.
Đối với rủi ro hoạt động, ngân hàng phải ban hành chiến lược quản lý riêng, thiết lập hạn mức tổn thất tài chính và phi tài chính, phân loại hoạt động kinh doanh thành 6 nhóm (thu nhập lãi, chi phí lãi, dịch vụ, kinh doanh ngoại hối, chứng khoán kinh doanh/đầu tư, hoạt động khác), và nhận dạng đầy đủ các nguồn rủi ro như gian lận nội bộ, gian lận bên ngoài, vi phạm chính sách lao động, hoặc sản phẩm dịch vụ không phù hợp quyền lợi khách hàng.
Đối tượng chịu tác động
Toàn bộ nghĩa vụ của Thông tư áp dụng trực tiếp cho ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư không đặt ra nghĩa vụ tuân thủ nào đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh, cá nhân hay tổ chức phi ngân hàng khác.