Nghị định số 220/2026/NĐ-CP ngày 22/6/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2023/NĐ-CP quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm cháy nổ bắt buộc và bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Thay đổi quan trọng nhất là biểu phí bảo hiểm bắt buộc công trình trong thời gian xây dựng (Phụ lục III) được ban hành mới, chia theo hai nhóm: công trình không có hoặc có ít phần lắp đặt thiết bị (dưới 50% giá trị), và công trình có phần lắp đặt thiết bị chiếm từ 50% giá trị trở lên. Mức phí (tính theo phần nghìn giá trị công trình) và mức khấu trừ bảo hiểm được quy định chi tiết theo từng loại công trình dân dụng, công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật, giao thông, nông nghiệp - môi trường. Doanh nghiệp bảo hiểm được điều chỉnh tăng, giảm phí tối đa 25% dựa trên đánh giá rủi ro, nhưng không được giảm phí dưới mức quy định đối với công trình ở vùng có nguy cơ thiên tai cao hoặc nếu doanh nghiệp bảo hiểm đang lỗ nghiệp vụ bảo hiểm tài sản 3 năm liên tiếp. Nghị định cũng làm rõ trách nhiệm mua bảo hiểm: chủ đầu tư chịu trách nhiệm chính dù có thể giao nhà thầu mua hộ; bổ sung quy định về phí bảo hiểm khi thời gian thi công hoặc bảo hành kéo dài; và yêu cầu nhà thầu tư vấn khảo sát, thiết kế, thi công phải cung cấp thông tin giá trị công trình để tính đúng phí bảo hiểm. Các hợp đồng bảo hiểm đã ký trước ngày hiệu lực vẫn tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận cũ, trừ khi các bên đồng ý sửa đổi theo quy định mới. Doanh nghiệp xây dựng, chủ đầu tư dự án (kể cả dự án có vốn đầu tư nước ngoài) và nhà thầu cần rà soát lại chi phí bảo hiểm bắt buộc trong các hợp đồng và ngân sách dự án mới.
Nghị định số 220/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 22/6/2026, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc và bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Bổ sung loại trừ đối với tổn thất do hiện tượng mục rữa trong điều kiện áp suất, nhiệt độ bình thường, và tổn thất do hiện tượng kết tạo vẩy cứng (han gỉ, đóng cặn...).
Ban hành lại toàn bộ Phụ lục III với hai nhóm biểu phí:
Mỗi nhóm quy định mức phí (theo phần nghìn giá trị công trình) và mức khấu trừ (loại M hoặc N) theo từng loại công trình: dân dụng (nhà ở, giáo dục, y tế, thể thao, văn hóa, thương mại, dịch vụ, văn phòng...), công nghiệp (vật liệu xây dựng, luyện kim, khai khoáng, dầu khí, năng lượng, hóa chất, công nghiệp nhẹ), hạ tầng kỹ thuật (cấp thoát nước, xử lý chất thải, viễn thông), giao thông (đường bộ, đường sắt, cầu, hầm, cảng, sân bay, cáp treo), và nông nghiệp - môi trường (thủy lợi, đê điều).
Doanh nghiệp bảo hiểm được tăng, giảm phí tối đa 25% dựa trên đánh giá rủi ro, nhưng phải có quy trình khai thác, thẩm định rõ ràng, được chuyên gia tính toán xác nhận và kiểm toán nội bộ hàng năm. Không được giảm phí dưới mức quy định đối với: công trình tại vùng có nguy cơ lũ quét, sạt lở, sụt lún; hoặc doanh nghiệp bảo hiểm lỗ nghiệp vụ bảo hiểm tài sản 3 năm tài chính liên tiếp. Đối với nhà máy điện hạt nhân và công trình chưa được liệt kê, phí bảo hiểm do các bên thỏa thuận trên cơ sở xác nhận của doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài đứng đầu nhận tái bảo hiểm.
Chủ đầu tư chịu trách nhiệm chính, có thể giao nhà thầu mua hộ nhưng vẫn phải theo dõi, giám sát. Nếu mua theo từng hạng mục, tổng số tiền bảo hiểm của các hạng mục không được thấp hơn số tiền bảo hiểm tối thiểu của toàn công trình.
Nếu thời gian thi công hoặc bảo hành kéo dài so với kế hoạch ban đầu, bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phải thỏa thuận phí bảo hiểm bổ sung cho thời gian kéo dài. Nhà thầu tư vấn khảo sát, thiết kế và thi công có trách nhiệm cung cấp thông tin giá trị công trình để xác định phí bảo hiểm tương ứng.
Thay thế Phụ lục III và Mẫu số 3 Phụ lục X của Nghị định 67/2023/NĐ-CP. Thay thế cụm từ 'người thứ ba' bằng 'bên thứ ba'; 'hoạt động đầu tư xây dựng' bằng 'hoạt động xây dựng'; và cập nhật tên gọi bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tư vấn xây dựng trong toàn văn Nghị định 67/2023/NĐ-CP.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Hợp đồng bảo hiểm đã ký trước ngày hiệu lực và còn hiệu lực tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận cũ, trừ khi các bên thỏa thuận sửa đổi theo quy định mới. Dự án được Chính phủ bảo lãnh có điều khoản ổn định pháp luật thì áp dụng theo thỏa thuận bảo lãnh.