Nghị định 145/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 22/6/2026, quy định cơ chế quản lý tài chính và đánh giá, xếp loại doanh nghiệp áp dụng riêng cho Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX) và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) - hai đơn vị hạ tầng thị trường chứng khoán do Bộ Tài chính làm đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước. Nghị định thay thế Nghị định số 59/2021/NĐ-CP. Nội dung chính gồm quy định về hoạt động đầu tư (VNX và VSDC phải xác định, kiểm soát xung đột lợi ích trước khi đầu tư); danh mục chi tiết các nguồn doanh thu của từng đơn vị (phí thành viên, phí tổ chức thị trường, phí lưu ký, phí bù trừ - thanh toán, dịch vụ hạ tầng công nghệ...); các khoản chi phí đặc thù được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, như khoản trích lập Quỹ phòng ngừa rủi ro nghiệp vụ của VSDC; và các yếu tố khách quan được loại trừ khi đánh giá, xếp loại hiệu quả hoạt động của hai doanh nghiệp. Vì đối tượng áp dụng chỉ giới hạn ở VNX, VSDC, các công ty con do hai đơn vị này nắm giữ 100% vốn và Bộ Tài chính với vai trò chủ sở hữu, nghị định này không tạo ra nghĩa vụ tuân thủ mới cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, kế toán viên hay nhà đầu tư nước ngoài nói chung. Đây là văn bản mang tính quản trị tài chính nội bộ ngành hạ tầng chứng khoán hơn là quy định tác động trực tiếp đến cộng đồng doanh nghiệp.
Nghị định quy định một số nội dung về cơ chế quản lý tài chính, đánh giá, xếp loại doanh nghiệp áp dụng cho:
Ngoài các quy định riêng tại Nghị định này, VNX và VSDC thực hiện quản lý tài chính, đánh giá, xếp loại theo Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn. Nếu có sự khác biệt giữa Nghị định này và các văn bản hướng dẫn nêu trên, ưu tiên áp dụng Nghị định này.
VNX và VSDC thực hiện đầu tư theo pháp luật về quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Trước khi quyết định đầu tư, hai đơn vị phải xác định rõ các xung đột lợi ích có thể phát sinh, đề ra biện pháp kiểm soát và báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Thẩm quyền quyết định đầu tư theo pháp luật quản lý vốn nhà nước, Điều lệ tổ chức hoạt động của từng đơn vị và pháp luật liên quan.
Doanh thu của VNX gồm ba nhóm: (i) doanh thu nghiệp vụ - quản lý thành viên, tổ chức thị trường và các hoạt động nghiệp vụ khác; (ii) doanh thu dịch vụ - cung cấp thông tin, hạ tầng công nghệ và dịch vụ khác; (iii) doanh thu, thu nhập từ đầu tư vốn vào công ty con (lợi nhuận sau thuế còn lại, chênh lệch vốn chủ sở hữu - vốn điều lệ) cùng doanh thu tài chính, thu nhập khác.
Doanh thu của VSDC gồm các nhóm tương tự nhưng với danh mục nghiệp vụ đặc thù rộng hơn: đăng ký/quản lý thành viên; đăng ký, hủy đăng ký, điều chỉnh chứng khoán; lưu ký; chuyển khoản chứng khoán; thực hiện quyền; chuyển quyền sở hữu ngoài hệ thống giao dịch; vay/cho vay chứng khoán; thanh toán gốc, lãi, mua lại công cụ nợ Chính phủ, trái phiếu được bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương; bù trừ - thanh toán giao dịch, quản lý vị thế và tài sản ký quỹ, xử lý lỗi sau giao dịch; đăng ký biện pháp bảo đảm; phong tỏa chứng khoán theo yêu cầu nhà đầu tư; lưu ký và thanh toán hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon. VSDC còn được hạch toán vào doanh thu tài chính khoản lãi tiền gửi phát sinh từ thanh toán hộ cổ tức, gốc, lãi, tiền mua lại các loại chứng khoán/công cụ nợ nêu trên.
VNX và VSDC quản lý chi phí theo pháp luật về quản lý vốn nhà nước, pháp luật thuế và pháp luật liên quan. Riêng VSDC được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế đối với: (a) khoản trích lập Quỹ phòng ngừa rủi ro nghiệp vụ (trích hàng quý theo pháp luật chứng khoán, số dư chưa dùng hết được chuyển sang năm sau); (b) chi phí chuyển công ty con của VNX liên quan đến giao dịch chuyển quyền sở hữu chứng khoán ngoài hệ thống giao dịch.
VNX và VSDC được đánh giá, xếp loại theo pháp luật áp dụng cho doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Ngoài các yếu tố loại trừ chung theo pháp luật đó, hai đơn vị còn được loại trừ tác động của: thay đổi chính sách Nhà nước ảnh hưởng đến doanh thu; đối với VNX - biến động số lượng thành viên, số công ty niêm yết/đăng ký giao dịch, khối lượng và giá giao dịch chứng khoán, giá trị trái phiếu trúng thầu, giá trị giao dịch trái phiếu, giá trị chuyển quyền sở hữu ngoài hệ thống, khối lượng phái sinh, doanh thu đấu giá/chào bán cạnh tranh/dựng sổ, doanh thu tổ chức sàn giao dịch các-bon và thị trường khác; đối với VSDC - biến động khối lượng lưu ký, giá trị đăng ký chứng khoán, giá trị thanh toán gốc/lãi/mua lại, số lần thực hiện quyền, số lần và giá trị chuyển khoản, số lượng thành viên lưu ký/bù trừ, số dư tài sản ký quỹ, khối lượng phái sinh thế vị, số lượng hồ sơ đăng ký biện pháp bảo đảm, khối lượng hạn ngạch phát thải/tín chỉ các-bon và các yếu tố khách quan tương tự.
VNX và VSDC quản lý các công ty con 100% vốn theo pháp luật doanh nghiệp, pháp luật quản lý vốn nhà nước, pháp luật chứng khoán và Nghị định này. Hai đơn vị cho ý kiến về quy chế tài chính của công ty con, quy chế này phải gồm: vốn điều lệ và huy động vốn; đầu tư, cho thuê, thế chấp, mua bán tài sản cố định; doanh thu và chi phí (công ty con của VNX được hạch toán doanh thu tài chính đối với lãi tiền gửi từ đấu giá chứng khoán; công ty con của VSDC được trừ chi phí trích Quỹ phòng ngừa rủi ro nghiệp vụ); phân phối lợi nhuận và trích lập quỹ; các nội dung quản lý khác. VNX và VSDC phải xây dựng quy chế giám sát nội bộ, giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động của các công ty con.