Nghị định 155/2026/NĐ-CP: Sửa đổi Nghị định 124/2020/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại
Bài giải thích của RegHub - New MarketerCập nhật lần cuối:
Dựa trên:155/2026/ND-CP - Công báo Chính phủ
Bài giải thích này do AI tạo và được kiểm tra tự động bằng AI, chưa qua chuyên gia thẩm định. Đây không phải tư vấn pháp lý, thuế hay kế toán và có thể có sai sót. Vui lòng đối chiếu với văn bản chính thức trước khi áp dụng.
Nghị định số 155/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 sửa đổi, bổ sung nhiều điều của Nghị định số 124/2020/NĐ-CP - văn bản hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại. Nghị định mới bổ sung khái niệm «vụ việc khiếu nại phức tạp», quy định chặt hơn về ủy quyền khiếu nại (văn bản ủy quyền của cá nhân phải công chứng hoặc chứng thực), và bổ sung cơ chế rút khiếu nại khi nhiều người cùng khiếu nại một nội dung. Điểm mới đáng chú ý nhất là quy định về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại khi xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan (thiên tai, dịch bệnh, tai nạn, hồ sơ đang bị tạm giữ...), cùng với quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu khiếu nại. Nghị định cũng siết chặt trách nhiệm kỷ luật đối với cán bộ, công chức vi phạm trong quá trình xác minh, giải quyết khiếu nại hoặc can thiệp trái pháp luật. Về phạm vi áp dụng, đây là văn bản thủ tục hành chính chung, áp dụng cho mọi cá nhân, tổ chức khiếu nại quyết định hoặc hành vi hành chính của cơ quan nhà nước - không quy định riêng về nghĩa vụ thuế, hóa đơn, hải quan hay lao động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể dùng cơ chế này khi khiếu nại một quyết định hành chính, nhưng nội dung nghị định không tạo nghĩa vụ tuân thủ mới cho SME. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026; riêng quy định bắt buộc công chứng văn bản ủy quyền khiếu nại của cá nhân sẽ hết hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
Phạm vi sửa đổi
Nghị định số 155/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 124/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại. Nghị định được ban hành để phù hợp với Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo số 136/2025/QH15.
Vụ việc khiếu nại phức tạp (Điều 3a - mới)
Nghị định lần đầu tiên định nghĩa «vụ việc phức tạp» trong giải quyết khiếu nại, gồm: phải xác minh từ 2 địa điểm trở lên; có từ 2 nội dung phải xác minh trở lên; nhiều người cùng khiếu nại một nội dung; liên quan yếu tố nước ngoài; liên quan trách nhiệm của nhiều cơ quan; các cơ quan có ý kiến khác nhau; hoặc tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn cần thời gian xác minh. Việc xác định vụ việc phức tạp phải lập thành văn bản, lưu trong hồ sơ.
Ủy quyền khiếu nại (Điều 5)
Văn bản ủy quyền khiếu nại của cá nhân bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực. Văn bản ủy quyền của tổ chức phải do người có thẩm quyền ký và đóng dấu (nếu có). Một người khiếu nại có thể ủy quyền cho nhiều người khác nhau về các nội dung khác nhau, nhưng không được ủy quyền một nội dung cho nhiều người.
Rút khiếu nại khi nhiều người cùng khiếu nại (Điều 7a - mới)
Khi nhiều người cùng khiếu nại một nội dung mà một số người rút khiếu nại, việc giải quyết vẫn tiếp tục với những người còn lại. Nếu toàn bộ người khiếu nại rút, người giải quyết khiếu nại ban hành quyết định đình chỉ.
Xử lý khiếu nại đông người ở cấp xã (Điều 8)
Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm phân công người tiếp đại diện người khiếu nại, phối hợp Mặt trận Tổ quốc khi cần, chỉ đạo Công an cấp xã bảo đảm trật tự công cộng, và hướng dẫn người khiếu nại thực hiện đúng quy định.
Thụ lý giải quyết khiếu nại (Điều 16)
Trong 7 ngày làm việc kể từ khi nhận khiếu nại đủ điều kiện, người có thẩm quyền phải thụ lý. Với khiếu nại đông người có người đại diện, chỉ thụ lý khi đơn có đủ chữ ký và văn bản cử người đại diện hợp lệ.
Tổ chức đối thoại (Điều 28)
Thông báo đối thoại phải gửi trước ít nhất 5 ngày. Với khiếu nại lần hai, người giải quyết khiếu nại là Thủ trưởng cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải trực tiếp đối thoại với người khiếu nại. Người giải quyết khiếu nại là Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải trực tiếp đối thoại khi: nhiều người cùng khiếu nại, các cơ quan có ý kiến khác nhau, người khiếu nại có thái độ gay gắt, dư luận quan tâm, hoặc vụ việc ảnh hưởng an ninh trật tự; các trường hợp khác có thể phân công cấp phó hoặc thủ trưởng cơ quan chuyên môn đối thoại thay. Biên bản đối thoại phải lập theo mẫu quy định, tối thiểu 3 bản.
Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại (Điều 28a, 28b - mới)
Đây là nội dung mới quan trọng nhất của nghị định. Khi xảy ra sự kiện bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh...) hoặc trở ngại khách quan (tai nạn, ốm đau, hồ sơ bị tạm giữ...) khiến người khiếu nại không thể thực hiện quyền, nghĩa vụ, người giải quyết khiếu nại ban hành quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ theo mẫu quy định, gửi trong 3 ngày làm việc. Khi căn cứ tạm đình chỉ không còn, phải ban hành ngay quyết định tiếp tục giải quyết; thời hạn giải quyết được tính lại từ ngày ban hành quyết định này.
Ứng dụng công nghệ thông tin (Điều 30a - mới)
Cơ quan có thẩm quyền phải ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để cập nhật, quản lý, kết nối dữ liệu giải quyết khiếu nại trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo đảm an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Xử lý kỷ luật vi phạm (Điều 38-41a)
Nghị định quy định chi tiết các mức kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc/bãi nhiệm) áp dụng cho người xác minh, người giải quyết khiếu nại có hành vi sách nhiễu, bao che, làm sai lệch hồ sơ, hoặc ban hành quyết định trái pháp luật. Người can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết khiếu nại cũng bị xử lý kỷ luật từ khiển trách đến cảnh cáo.
Khiếu nại của người lao động (Điều 43)
Khiếu nại của người lao động trong doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập về lao động, giáo dục nghề nghiệp, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, việc làm, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội thực hiện theo pháp luật chuyên ngành kết hợp với pháp luật khiếu nại.
Biểu mẫu và hiệu lực
Nghị định thay thế các Mẫu số 01-04, 14 và bổ sung Mẫu số 14a (quyết định tạm đình chỉ/đình chỉ), 14b (quyết định tiếp tục giải quyết). Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Riêng quy định bắt buộc công chứng văn bản ủy quyền khiếu nại của cá nhân (Điều 3) sẽ hết hiệu lực từ ngày 01/01/2027. Các vụ việc đã thụ lý trước ngày hiệu lực nhưng chưa có quyết định giải quyết sẽ áp dụng quy định mới về rút khiếu nại, tạm đình chỉ, đình chỉ và đối thoại.