Nghị định
Thấp

Nghị định số 385/2026/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính

Nghị định 385/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 09/10/2026 và có hiệu lực từ ngày 10/10/2026, quy định việc kiểm soát việc quy định, thực hiện, rà soát, đánh giá thủ tục hành chính và quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính. Nghị định không áp dụng cho thủ tục nội bộ trong một cơ quan, thủ tục xử lý vi phạm hành chính, thanh tra, kiểm tra và thủ tục có nội dung bí mật nhà nước. Với doanh nghiệp, các điểm đáng chú ý: cơ quan không được tự đặt thủ tục, hồ sơ ngoài quy định; doanh nghiệp có quyền từ chối yêu cầu không được quy định hoặc chưa được công khai (Điều 21); phải nêu rõ lý do bằng văn bản khi từ chối hoặc yêu cầu bổ sung hồ sơ; áp dụng nguyên tắc cung cấp thông tin một lần; doanh nghiệp được phản ánh, kiến nghị và khiếu nại theo quy định. Nghị định thay thế các Nghị định 63/2010, 48/2013 và 92/2017.

Bài giải thích của RegHub - New MarketerCập nhật lần cuối:

Dựa trên:385/2026/ND-CP - Công báo Chính phủBan hành: Hiệu lực:

Bài giải thích này do AI tạo và được kiểm tra tự động bằng AI, chưa qua chuyên gia thẩm định. Đây không phải tư vấn pháp lý, thuế hay kế toán và có thể có sai sót. Vui lòng đối chiếu với văn bản chính thức trước khi áp dụng.

NGHỊ ĐỊNH SỐ 385/2026/NĐ-CP VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

Phạm vi và đối tượng

Nghị định quy định về kiểm soát việc quy định, thực hiện, rà soát, đánh giá thủ tục hành chính và quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính. Nghị định không điều chỉnh: thủ tục giải quyết công việc nội bộ trong một cơ quan hành chính nhà nước; thủ tục xử lý vi phạm hành chính; trình tự, thủ tục thanh tra, kiểm tra; thủ tục có nội dung bí mật nhà nước.

Đối tượng áp dụng gồm cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, chính quyền địa phương, cá nhân, tổ chức trong hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính.

Thủ tục hành chính

Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức hoặc giữa các cơ quan nhà nước. Thủ tục hành chính nội bộ là thủ tục giải quyết công việc liên quan từ hai cơ quan hành chính nhà nước trở lên hoặc áp dụng chung cho các cơ quan hành chính nhà nước.

Yêu cầu khi quy định thủ tục

Mỗi thủ tục phải quy định đầy đủ: tên thủ tục, trình tự thực hiện, cách thức thực hiện, thành phần và số lượng hồ sơ, thời hạn giải quyết, đối tượng thực hiện, cơ quan giải quyết; và khi có thì mẫu đơn, mẫu tờ khai, kết quả thực hiện, yêu cầu, điều kiện, phí, lệ phí. Thủ tục phải minh bạch, đơn giản, tiết kiệm thời gian và chi phí, bảo đảm bình đẳng, liên thông, số hóa và chỉ cung cấp thông tin một lần.

Công bố và công khai

  • Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ công bố thủ tục thuộc ngành, lĩnh vực quản lý; quyết định công bố ban hành chậm nhất trước 20 ngày so với ngày văn bản có hiệu lực.
  • Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp xã và người đứng đầu cơ quan, đơn vị được giao hoặc ủy quyền: chậm nhất trước 10 ngày.
  • Văn bản theo trình tự rút gọn hoặc trường hợp đặc biệt có hiệu lực từ ngày thông qua hoặc ký: quyết định công bố chậm nhất sau 03 ngày làm việc.
  • Công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia, tại trụ sở cơ quan tiếp nhận (niêm yết hoặc điện tử), trên cổng thông tin điện tử của Chính phủ, bộ, UBND cấp tỉnh và các hình thức phù hợp khác.

Trách nhiệm của cơ quan thực hiện thủ tục

  • Hướng dẫn, giải thích chính xác, đầy đủ, kịp thời.
  • Nêu rõ lý do bằng văn bản khi từ chối hoặc yêu cầu bổ sung giấy tờ.
  • Không tự đặt ra thủ tục, hồ sơ, giấy tờ ngoài quy định của pháp luật.
  • Phối hợp, chia sẻ thông tin; thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông.
  • Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị.

Quyền và nghĩa vụ của đối tượng thực hiện

Quyền: từ chối yêu cầu không được quy định trong thủ tục hoặc chưa được công khai; giám sát, phản ánh, kiến nghị; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện quyết định và hành vi hành chính; tham gia trực tiếp hoặc ủy quyền.

Nghĩa vụ: thực hiện đầy đủ quy định; chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, chính xác của hồ sơ; cung cấp đầy đủ thông tin; không cản trở; không hối lộ hoặc lừa dối cơ quan nhà nước.

Đối với thủ tục chưa được công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia, khi có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền vẫn phải giải quyết và không được tự ý đặt thêm hoặc áp dụng khác với quy định (Điều 26.3).

Đánh giá tác động

Tiêu chí: sự cần thiết, tính hợp lý, tính hợp hiến, hợp pháp, chi phí tuân thủ. Phải đánh giá tác động về cạnh tranh nếu thủ tục có khả năng tạo rào cản gia nhập thị trường, hạn chế số lượng chủ thể, tạo lợi thế không bình đẳng hoặc hạn chế đổi mới sáng tạo. Phải đánh giá về quản lý rủi ro nếu có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng, môi trường, đạo đức xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội hoặc lợi ích công cộng.

Rà soát, đánh giá

Mục đích: phát hiện vướng mắc, chồng chéo; đánh giá tác động thực tế và chi phí tuân thủ; đề xuất sửa đổi, đơn giản hóa, điện tử hóa hoặc bãi bỏ. Ưu tiên thủ tục có nhiều hồ sơ, chi phí tuân thủ lớn, nhiều phản ánh, kiến nghị, hồ sơ phức tạp, chồng chéo, hoặc không phát sinh hồ sơ trong 03 năm liên tiếp.

Cơ sở dữ liệu quốc gia và Nền tảng số

  • Cơ sở dữ liệu gồm thủ tục đang thực hiện, thủ tục đã bãi bỏ, văn bản quy định thủ tục và nội dung khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; là nguồn thông tin chính thức.
  • Thời hạn đăng tải chậm nhất: 05 ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định công bố của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; 03 ngày làm việc với Chủ tịch UBND các cấp; 02 ngày làm việc với văn bản theo trình tự rút gọn hoặc trường hợp đặc biệt có hiệu lực từ ngày thông qua hoặc ký.
  • Bộ Tư pháp xây dựng, quản lý, vận hành Nền tảng số về kiểm soát thủ tục hành chính.

Hiệu lực

  • Có hiệu lực từ ngày 10 tháng 10 năm 2026.
  • Nghị định số 63/2010/NĐ-CP, 48/2013/NĐ-CP, 92/2017/NĐ-CP hết hiệu lực; Điều 5 Nghị định 78/2025/NĐ-CP được sửa đổi.
  • Thủ tục hành chính nội bộ đã ban hành vẫn có hiệu lực đến khi được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ.
  • Đề xuất chính sách, dự án, dự thảo đang thực hiện trước ngày có hiệu lực thì đánh giá tác động theo pháp luật hiện hành tại thời điểm đề xuất, soạn thảo.