Nghị định 73/2026/NĐ-CP: Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước
Bài giải thích của RegHub - New MarketerCập nhật lần cuối:
Dựa trên:73/2026/NĐ-CP - Công báo Chính phủ
Bài giải thích này do AI tạo và được kiểm tra tự động bằng AI, chưa qua chuyên gia thẩm định. Đây không phải tư vấn pháp lý, thuế hay kế toán và có thể có sai sót. Vui lòng đối chiếu với văn bản chính thức trước khi áp dụng.
Nghị định 73/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 10-3-2026, hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15. Văn bản quy định nguyên tắc cân đối, phân cấp ngân sách trung ương và địa phương; cách xác định và bù đắp bội chi ngân sách trung ương, bội chi ngân sách cấp tỉnh; quản lý, hạch toán các khoản vay và trả nợ của ngân sách nhà nước; cơ chế quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ; quản lý quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, nguồn tài trợ và đóng góp tự nguyện cho khu vực công; và kinh phí hỗ trợ các tổ chức xã hội thực hiện nhiệm vụ được Nhà nước giao. Phần lớn nội dung còn lại quy định trình tự, thời hạn lập, thảo luận, quyết định và giao dự toán ngân sách nhà nước hằng năm giữa Chính phủ, Bộ Tài chính, các bộ ngành trung ương, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp (tỉnh, xã); việc chấp hành, điều chỉnh dự toán trong năm ngân sách; và quy trình quyết toán, xử lý kết dư ngân sách sau khi Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân phê chuẩn. Đây là văn bản mang tính hành chính-tài chính công, điều chỉnh mối quan hệ nội bộ giữa các cơ quan nhà nước trong việc lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước. Nghị định không quy định trực tiếp về nghĩa vụ thuế, hóa đơn, lao động hay hải quan đối với doanh nghiệp và hộ kinh doanh, nên tác động thực tế đến hoạt động tuân thủ của khối doanh nghiệp là rất hạn chế.
Tổng quan
Nghị định 73/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 10-3-2026, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 (căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15). Đối tượng áp dụng gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức, cá nhân khác liên quan đến ngân sách nhà nước.
Chương I - Những quy định chung
- Nguyên tắc cân đối, quản lý và phân cấp ngân sách trung ương, ngân sách địa phương.
- Bội chi ngân sách trung ương được bù đắp bằng vay trong nước (trái phiếu Chính phủ) và vay nước ngoài; bội chi ngân sách cấp tỉnh được bù đắp bằng vay trong nước và vay lại từ Chính phủ, với điều kiện chỉ dùng cho đầu tư công trung hạn và địa phương không có nợ quá hạn.
- Quy định quản lý, hạch toán các khoản vay và trả nợ gốc, lãi, phí của ngân sách nhà nước.
- Cơ chế «quản lý ngân sách nhà nước theo kết quả thực hiện nhiệm vụ»: áp dụng khi xác định được kết quả đầu ra cụ thể, có định mức kinh tế-kỹ thuật và có thỏa thuận giữa cơ quan giao và cơ quan nhận nhiệm vụ; gồm bốn hình thức (theo chương trình, theo số lượng đầu ra dự kiến, theo kết quả thực tế, theo mục tiêu hiệu quả).
- Quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách: về nguyên tắc không được ngân sách hỗ trợ kinh phí hoạt động, trừ trường hợp đáp ứng đủ điều kiện pháp lý và không trùng nguồn thu, nhiệm vụ chi với ngân sách nhà nước.
- Quản lý nguồn tài trợ, đóng góp tự nguyện cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, đơn vị sự nghiệp công lập: phải công khai, minh bạch, đúng mục đích; quy trình tiếp nhận, mở tài khoản theo dõi riêng và báo cáo quyết toán.
- Kinh phí hỗ trợ tổ chức xã hội thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, theo nguyên tắc tự bảo đảm kinh phí hoạt động là chính.
- Thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách địa phương.
- Sử dụng quỹ dự trữ tài chính trung ương và cấp tỉnh để xử lý thiếu hụt tạm thời hoặc nhu cầu chi đột xuất.
- Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong lập dự toán, chấp hành, kế toán, quyết toán và công khai ngân sách; Bộ Tài chính chủ trì xây dựng hệ thống thông tin ngân sách thống nhất, kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính.
Chương II - Lập dự toán ngân sách nhà nước
Quy định trách nhiệm lập dự toán của cơ quan thuế, cơ quan hải quan, các đơn vị dự toán ngân sách (đơn vị sử dụng ngân sách, đơn vị dự toán cấp trên, đơn vị dự toán cấp I). Đặc biệt, Chương này ấn định lịch trình chi tiết theo từng mốc thời gian trong năm cho việc: Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định xây dựng dự toán (trước 15-5); các bộ, địa phương gửi dự toán về Bộ Tài chính (trước 10-7); tổng hợp báo cáo Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội (trước 20-9); Quốc hội quyết định và Thủ tướng Chính phủ giao dự toán (trước 20-11); Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định dự toán địa phương (trước 10-12); Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định dự toán cấp xã (chậm nhất 10 ngày sau khi cấp tỉnh quyết định). Chương này cũng quy định việc lập lại dự toán khi chưa được thông qua đúng hạn, tổ chức thảo luận dự toán giữa các cấp, và giao Bộ Tài chính ban hành mẫu biểu.
Chương III - Chấp hành ngân sách nhà nước
Quy định việc phân bổ, giao dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách sau khi được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân giao dự toán, gửi cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước để thực hiện.
Quyết toán ngân sách nhà nước
Quy định trình tự xét duyệt, tổng hợp quyết toán từ đơn vị dự toán cấp I lên Bộ Tài chính (chậm nhất 15-8 năm sau), báo cáo Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội (chậm nhất 20-9 năm sau) và Quốc hội phê chuẩn quyết toán chậm nhất 12 tháng sau khi kết thúc năm ngân sách. Nghị định cũng quy định cách xử lý các khoản thu, chi sai quy định phát hiện sau quyết toán, và cách xử lý kết dư ngân sách trung ương, cấp tỉnh, cấp xã (trích 50% vào quỹ dự trữ tài chính, 50% hạch toán vào thu ngân sách năm sau).
Ghi chú biên tập
Đây là văn bản điều hành ngân sách công, không đặt ra nghĩa vụ thuế, hóa đơn điện tử, lao động hay hải quan mới đối với doanh nghiệp. Nội dung chủ yếu liên quan đến quan hệ giữa các cấp chính quyền, không phải giữa Nhà nước và người nộp thuế.