Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 41/2026/TT-BCT quy định hai danh mục hàng hóa mà thương nhân tạm thời không được phép tạm nhập để tái xuất hoặc chuyển khẩu qua các cửa khẩu Việt Nam: danh mục phế liệu (Phụ lục I) và danh mục hàng hóa đã qua sử dụng (Phụ lục II). Thông tư có hiệu lực từ ngày 05/9/2026 đến hết ngày 31/12/2029. Quy định này áp dụng cho thương nhân và tổ chức thực hiện hoạt động tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu hàng hóa. Quy định không áp dụng đối với trường hợp chuyển khẩu mà hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu, không qua cửa khẩu Việt Nam. Đối với các lô hàng phế liệu, hàng hóa đã qua sử dụng đã hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập, chuyển khẩu trước ngày Thông tư có hiệu lực thì tiếp tục được tái xuất, chuyển khẩu theo quy định pháp luật có hiệu lực tại thời điểm làm thủ tục đó. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực tạm nhập tái xuất - một phân khúc thương mại xuyên biên giới tuy nhỏ nhưng vẫn đang hoạt động - việc cần làm là đối chiếu mã HS của các lô hàng phế liệu, hàng hóa đã qua sử dụng với danh mục tại hai phụ lục (được công bố riêng, chưa được dịch trong bản tiếng Anh) vì cơ quan hải quan sẽ không tiếp nhận tờ khai tạm nhập đối với các mặt hàng nằm trong danh mục kể từ ngày hiệu lực. Thông tư này cũng bãi bỏ Thông tư số 18/2024/TT-BCT trước đó cùng một số quy định liên quan tại hai thông tư cũ khác, do đó doanh nghiệp cần cập nhật lại danh mục tuân thủ nội bộ.
Thông tư số 41/2026/TT-BCT của Bộ Công Thương, ban hành ngày 22/7/2026, quy định danh mục phế liệu và danh mục hàng hóa đã qua sử dụng tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu. Thông tư được ban hành căn cứ Luật Quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14 và Nghị định số 292/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quản lý ngoại thương.
Các lô hàng phế liệu, hàng hóa đã qua sử dụng đã hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập, chuyển khẩu trước ngày Thông tư có hiệu lực thì tiếp tục được tái xuất, chuyển khẩu theo quy định pháp luật có hiệu lực tại thời điểm làm thủ tục đó.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, thương nhân, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phản ánh bằng văn bản về Cục Ngoại thương, Bộ Công Thương để được xem xét, xử lý.
Lưu ý: Các phụ lục chi tiết theo mã HS (Phụ lục I và Phụ lục II) chưa được dịch trong bản gốc tiếng Anh của nguồn tài liệu.