Nghị định hợp nhất số 67/VBHN-NĐ-BCT: Quy định về mua bán hàng hóa và hoạt động thương mại điện tử của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Bài giải thích của RegHub - New MarketerCập nhật lần cuối:
Dựa trên:67/VBHN-NĐ-BCT - Công báo Chính phủ
Bài giải thích này do AI tạo và được kiểm tra tự động bằng AI, chưa qua chuyên gia thẩm định. Đây không phải tư vấn pháp lý, thuế hay kế toán và có thể có sai sót. Vui lòng đối chiếu với văn bản chính thức trước khi áp dụng.
Nghị định hợp nhất số 67/VBHN-NĐ-BCT (ban hành ngày 09/7/2026, đăng Công báo ngày 15/7/2026) hợp nhất Nghị định số 09/2018/NĐ-CP với các sửa đổi mới nhất từ Nghị định số 248/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ 01/7/2026). Văn bản quy định chi tiết điều kiện, hồ sơ, thủ tục để nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy phép kinh doanh và Giấy phép lập cơ sở bán lẻ tại Việt Nam, áp dụng cho các hoạt động như xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bán buôn, bán lẻ, logistics, cho thuê hàng hóa, xúc tiến thương mại, trung gian thương mại và tổ chức đấu thầu. Thay đổi quan trọng nhất trong lần hợp nhất này là việc mở rộng phạm vi điều chỉnh sang lĩnh vực thương mại điện tử: cụm từ «cung cấp dịch vụ thương mại điện tử» được thay bằng «quản lý và vận hành nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử, nền tảng thương mại điện tử tích hợp». Từ ngày 01/7/2026, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP và Nghị định số 85/2021/NĐ-CP về thương mại điện tử chính thức hết hiệu lực. Kể từ ngày 01/01/2027, chủ quản nền tảng thương mại điện tử phải xác thực điện tử danh tính của người bán và người livestream bán hàng trên nền tảng. Các nền tảng đã đăng ký trước 01/7/2026 được tiếp tục hoạt động theo nội dung cũ đến hết 30/6/2027, trong thời gian đó phải hoàn tất thủ tục sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo quy định mới. Đối với nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bán lẻ, quy định vẫn giữ nguyên yêu cầu Kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) đối với cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở thứ nhất, trừ trường hợp cơ sở đó có diện tích dưới 500 m2, được lập trong trung tâm thương mại và không thuộc loại hình cửa hàng tiện lợi, siêu thị mini. Doanh nghiệp SME có vốn nước ngoài, sàn thương mại điện tử và cá nhân bán hàng livestream nên rà soát ngay quy định về xác thực danh tính và cập nhật hồ sơ giấy phép trước thời hạn chuyển tiếp để tránh gián đoạn hoạt động.
Tổng quan
Nghị định hợp nhất số 67/VBHN-NĐ-BCT do Bộ Công Thương ban hành ngày 09/7/2026, đăng Công báo số 396-VBHN ngày 15/7/2026, hợp nhất Nghị định số 09/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 (có hiệu lực từ 15/01/2018) với nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 248/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 (có hiệu lực từ 01/7/2026). Đây là văn bản khung quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời tích hợp các quy định mới về quản lý nền tảng thương mại điện tử.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện: quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu, quyền phân phối (bán buôn, bán lẻ, đại lý, nhượng quyền), dịch vụ giám định thương mại, dịch vụ logistics, cho thuê hàng hóa (không gồm cho thuê tài chính), dịch vụ xúc tiến thương mại (không gồm quảng cáo), dịch vụ trung gian thương mại, quản lý và vận hành nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử, nền tảng thương mại điện tử tích hợp, và dịch vụ tổ chức đấu thầu hàng hóa, dịch vụ.
Giấy phép kinh doanh
Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải xin Giấy phép kinh doanh để: phân phối bán lẻ (trừ một số hàng hóa đặc thù); nhập khẩu và phân phối bán buôn dầu mỡ bôi trơn, gạo, đường, vật phẩm ghi hình, sách báo tạp chí; cung cấp dịch vụ logistics ngoài cam kết mở cửa; cho thuê hàng hóa; xúc tiến thương mại; trung gian thương mại; quản lý vận hành nền tảng thương mại điện tử; và tổ chức đấu thầu.
Điều kiện cấp phép phân theo hai nhóm nhà đầu tư:
- Nhà đầu tư thuộc nước có Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có cam kết mở cửa thị trường: phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường theo Điều ước, có kế hoạch tài chính và không nợ thuế quá hạn (nếu đã hoạt động tại Việt Nam từ 1 năm trở lên).
- Nhà đầu tư ngoài diện cam kết: ngoài các điều kiện trên, phải phù hợp pháp luật chuyên ngành, mức độ cạnh tranh trong nước, khả năng tạo việc làm và đóng góp ngân sách.
Đối với hàng hóa chưa cam kết mở cửa (dầu mỡ bôi trơn, gạo, đường, vật phẩm ghi hình, sách báo tạp chí), việc cấp phép còn xét thêm điều kiện đặc thù theo từng loại hàng.
Thời hạn Giấy phép kinh doanh đối với các trường hợp không thuộc diện cam kết mở cửa là 05 năm. Hồ sơ gồm đơn đề nghị, bản giải trình điều kiện, kế hoạch kinh doanh và tài chính, xác nhận không nợ thuế, và bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp/đầu tư. Thời gian xử lý khoảng 3 ngày kiểm tra hồ sơ, 10 ngày xét điều kiện, tối đa 15 ngày lấy ý kiến Bộ Công Thương hoặc bộ quản lý ngành (nếu cần), và 3 ngày cấp phép sau khi có ý kiến chấp thuận.
Giấy phép lập cơ sở bán lẻ và Kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT)
Cơ sở bán lẻ thứ nhất phải đáp ứng: có kế hoạch tài chính, không nợ thuế quá hạn, và địa điểm phù hợp quy hoạch. Cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở thứ nhất phải qua Kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT), trừ trường hợp cơ sở đó có diện tích dưới 500 m2, được lập trong trung tâm thương mại và không thuộc loại hình cửa hàng tiện lợi, siêu thị mini. ENT do Hội đồng ENT cấp tỉnh đánh giá dựa trên các tiêu chí: quy mô thị trường địa lý, mật độ cơ sở bán lẻ hiện có, tác động đến chợ truyền thống, giao thông, môi trường, khả năng tạo việc làm và đóng góp ngân sách.
Thời hạn Giấy phép lập cơ sở bán lẻ tương ứng với thời hạn còn lại trên Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của dự án. Hồ sơ, trình tự cấp phép (không ENT) trải qua các bước kiểm tra hồ sơ, xét điều kiện và lấy ý kiến Bộ Công Thương trước khi cấp phép; trường hợp phải qua ENT có thêm bước thành lập Hội đồng ENT cấp tỉnh và chờ văn bản kết luận trước khi được lấy ý kiến Bộ Công Thương.
Chế độ báo cáo và xử lý vi phạm
Doanh nghiệp phải báo cáo định kỳ hằng năm trước 31/1 về tình hình hoạt động mua bán hàng hóa. Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy phép lập cơ sở bán lẻ có thể bị thu hồi nếu: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc đầu tư bị thu hồi, hồ sơ cấp phép có nội dung giả mạo, ngừng hoạt động quá 12 tháng mà không báo cáo, hoặc không thực hiện chế độ báo cáo trong 24 tháng liên tiếp. Doanh nghiệp được tạm ngừng hoạt động tối đa 12 tháng nếu tuân thủ nghĩa vụ thông báo.
Sửa đổi quan trọng về thương mại điện tử (theo Nghị định 248/2026/NĐ-CP)
Đây là nội dung mới, có hiệu lực từ 01/7/2026, được tích hợp vào Nghị định hợp nhất này:
- Cụm từ «cung cấp dịch vụ thương mại điện tử» được thay bằng «quản lý và vận hành nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử, nền tảng thương mại điện tử tích hợp», mở rộng phạm vi quản lý sang cả mạng xã hội bán hàng và các nền tảng tích hợp.
- Nghị định số 52/2013/NĐ-CP và Nghị định số 85/2021/NĐ-CP, các văn bản gốc về thương mại điện tử, chính thức hết hiệu lực kể từ 01/7/2026, trừ các trường hợp chuyển tiếp.
- Từ 01/01/2027, chủ quản nền tảng thương mại điện tử phải thực hiện xác thực điện tử danh tính của người bán và người livestream bán hàng trên nền tảng của mình. Đây là nghĩa vụ tuân thủ mới, ảnh hưởng trực tiếp đến các sàn thương mại điện tử, mạng xã hội bán hàng và cá nhân, hộ kinh doanh bán hàng qua livestream.
- Quy định chuyển tiếp: nền tảng thương mại điện tử (website, ứng dụng) đã được xác nhận thông báo hoặc đăng ký hoạt động trước 01/7/2026 được tiếp tục hoạt động theo nội dung đã xác nhận đến hết 30/6/2027; trong thời gian này phải hoàn tất thủ tục sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo Nghị định mới.
Trách nhiệm quản lý nhà nước
Bộ Công Thương chịu trách nhiệm công bố cam kết quốc tế, xây dựng Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia (tại cổng http://www.moit.gov.vn) và phối hợp thanh tra, kiểm tra. Sở Công Thương cấp tỉnh trực tiếp cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy phép kinh doanh và Giấy phép lập cơ sở bán lẻ tại địa phương, đồng thời cập nhật thông tin vào hệ thống dữ liệu quốc gia.
Hiệu lực và quy định chuyển tiếp
Nghị định gốc số 09/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ 15/01/2018, thay thế Nghị định số 23/2007/NĐ-CP. Doanh nghiệp đã có giấy phép hợp lệ trước ngày hiệu lực được tiếp tục hoạt động theo giấy phép cũ mà không phải xin cấp lại, trừ khi có yêu cầu điều chỉnh nội dung giấy phép. Các sửa đổi về thương mại điện tử tại Nghị định 248/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 01/7/2026, với thời hạn chuyển tiếp đến 30/6/2027 cho các nền tảng đã đăng ký trước đó.