Kho kiến thức
Bài giải thích của RegHub về văn bản chính thức về thuế, kế toán và hóa đơn, viết bằng ngôn ngữ dễ hiểu.
Hải quan
Thủ tục hải quan, thuế xuất nhập khẩu, biểu thuế và quy tắc xuất xứ.
Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16
Law on Access to Information No. 01/2026/QH16
Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16, thay thế Luật Tiếp cận thông tin số 104/2016/QH13, có hiệu lực từ ngày 01/9/2026. Luật quy định quyền của công dân được tiếp cận thông tin do cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập tạo ra hoặc nắm giữ, cùng trách nhiệm của các cơ quan này trong việc công khai và cung cấp thông tin theo yêu cầu. Đối với doanh nghiệp, luật có một số điểm đáng lưu ý. Thứ nhất, bí mật kinh doanh chỉ được cung cấp cho bên thứ ba khi chủ sở hữu đồng ý, trừ trường hợp người đứng đầu cơ quan xét thấy cần thiết vì lợi ích công cộng. Thứ hai, luật buộc cơ quan nhà nước công khai nhiều loại thông tin có giá trị tra cứu như quy hoạch, đấu thầu, đầu tư công, và xử phạt vi phạm hành chính về thuế, sở hữu trí tuệ, môi trường, lao động, bảo hiểm xã hội. Thứ ba, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, kể cả nhân sự doanh nghiệp FDI, có quyền yêu cầu thông tin liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của mình. Luật không quy định trực tiếp về thuế GTGT, thuế TNDN, hóa đơn điện tử, lao động hay hải quan, mà là khung pháp lý chung về minh bạch thông tin nhà nước. Doanh nghiệp và kế toán viên nên biết đến luật này chủ yếu để bảo vệ bí mật kinh doanh khi bị bên khác yêu cầu tiếp cận, và để tận dụng quyền tra cứu thông tin công khai phục vụ tuân thủ hoặc thẩm định đối tác.
Nghị định 153/2026/NĐ-CP: Sửa đổi phạm vi địa bàn hoạt động hải quan và trách nhiệm phối hợp chống buôn lậu qua biên giới
Decree 153/2026/ND-CP: Redrawing Customs Operational Zones and Border Anti-Smuggling Coordination Duties
Ngày 14/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 153/2026/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 01/2015/NĐ-CP (đã được sửa đổi tại Nghị định số 12/2018/NĐ-CP) về phạm vi địa bàn hoạt động hải quan và trách nhiệm phối hợp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Nghị định này chủ yếu mang tính kỹ thuật, hành chính: định nghĩa lại phạm vi cụ thể (ranh giới, toạ độ, diện tích) của địa bàn hoạt động hải quan tại các cửa khẩu đường bộ, lối thông quan, đường chuyên dụng vận chuyển hàng hóa, cửa khẩu đường thủy nội địa và cửa khẩu đường sắt. Nghị định cũng cập nhật danh mục các địa điểm chịu sự giám sát, kiểm soát hải quan (kho hàng, trụ sở doanh nghiệp chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế...) và làm rõ trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc chủ trì phòng, chống buôn lậu tại địa bàn hoạt động hải quan, bao gồm quyền áp dụng biện pháp tuần tra, điều tra, xác minh và phân công phối hợp với các lực lượng khác. Toàn bộ Phụ lục toạ độ ranh giới cửa khẩu cũ (kèm theo Nghị định 12/2018/NĐ-CP) được thay thế bằng phụ lục mới, quy định chi tiết ranh giới của hàng chục cửa khẩu tại 22 tỉnh, thành phố biên giới, gồm Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Lâm Đồng, Gia Lai, Đắk Lắk, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp và An Giang. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu, logistics, kho ngoại quan và các đơn vị hoạt động tại khu vực cửa khẩu đường bộ nên đối chiếu ranh giới địa bàn hoạt động hải quan mới tại phụ lục để xác định chính xác phạm vi bị kiểm tra, giám sát hải quan, tránh vướng mắc khi làm thủ tục thông quan hoặc khi cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra sau thông quan. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 05/7/2026.
Nghị định hợp nhất số 67/VBHN-NĐ-BCT: Quy định về mua bán hàng hóa và hoạt động thương mại điện tử của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Consolidated Decree No. 67/VBHN-ND-BCT: Rules on Goods Trading and E-Commerce Activities by Foreign Investors in Vietnam
Nghị định hợp nhất số 67/VBHN-NĐ-BCT (ban hành ngày 09/7/2026, đăng Công báo ngày 15/7/2026) hợp nhất Nghị định số 09/2018/NĐ-CP với các sửa đổi mới nhất từ Nghị định số 248/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ 01/7/2026). Văn bản quy định chi tiết điều kiện, hồ sơ, thủ tục để nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy phép kinh doanh và Giấy phép lập cơ sở bán lẻ tại Việt Nam, áp dụng cho các hoạt động như xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bán buôn, bán lẻ, logistics, cho thuê hàng hóa, xúc tiến thương mại, trung gian thương mại và tổ chức đấu thầu. Thay đổi quan trọng nhất trong lần hợp nhất này là việc mở rộng phạm vi điều chỉnh sang lĩnh vực thương mại điện tử: cụm từ «cung cấp dịch vụ thương mại điện tử» được thay bằng «quản lý và vận hành nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử, nền tảng thương mại điện tử tích hợp». Từ ngày 01/7/2026, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP và Nghị định số 85/2021/NĐ-CP về thương mại điện tử chính thức hết hiệu lực. Kể từ ngày 01/01/2027, chủ quản nền tảng thương mại điện tử phải xác thực điện tử danh tính của người bán và người livestream bán hàng trên nền tảng. Các nền tảng đã đăng ký trước 01/7/2026 được tiếp tục hoạt động theo nội dung cũ đến hết 30/6/2027, trong thời gian đó phải hoàn tất thủ tục sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo quy định mới. Đối với nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bán lẻ, quy định vẫn giữ nguyên yêu cầu Kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) đối với cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở thứ nhất, trừ trường hợp cơ sở đó có diện tích dưới 500 m2, được lập trong trung tâm thương mại và không thuộc loại hình cửa hàng tiện lợi, siêu thị mini. Doanh nghiệp SME có vốn nước ngoài, sàn thương mại điện tử và cá nhân bán hàng livestream nên rà soát ngay quy định về xác thực danh tính và cập nhật hồ sơ giấy phép trước thời hạn chuyển tiếp để tránh gián đoạn hoạt động.
Thông tư 07/2026/TT-NHNN sửa đổi quy định về hoạt động môi giới tiền tệ của ngân hàng thương mại
Circular 07/2026/TT-NHNN Amending Regulations on Monetary Brokerage Activities of Commercial Banks
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư 07/2026/TT-NHNN ngày 06/5/2026, sửa đổi Thông tư 17/2016/TT-NHNN về hoạt động môi giới tiền tệ của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư có hiệu lực từ ngày 20/6/2026. Điểm sửa đổi chính là tại khoản 1 Điều 4: ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải ban hành quy định nội bộ về môi giới tiền tệ bao gồm tối thiểu quy trình thực hiện, phạm vi trách nhiệm/quyền hạn của người liên quan, và quản lý rủi ro. Trong vòng 10 ngày kể từ khi ban hành hoặc sửa đổi quy định nội bộ này, ngân hàng phải gửi bản sao cho NHNN (Cục Quản lý, giám sát TCTD hoặc NHNN chi nhánh Khu vực). Điều 11 về tổ chức thực hiện cũng được sửa đổi, xác định rõ trách nhiệm giám sát, thanh tra của Thanh tra NHNN và Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng, đồng thời xác định trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị liên quan.
Nghị định 144/2026/NĐ-CP: Sửa đổi quy định chi tiết Luật Thuế GTGT - bổ sung đối tượng miễn thuế, sửa quy định khấu trừ thuế đầu vào và Danh mục khoáng sản xuất khẩu
Decree 144/2026/ND-CP Amends VAT Law Implementing Regulations - New VAT Exemptions, Revised Input Credit Rules, Updated List of Exported Minerals
Nghị định 144/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 05/5/2026, có hiệu lực từ 20/6/2026, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT). Nghị định mở rộng danh mục hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT, bổ sung thêm nhiều loại bảo hiểm như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, bảo hiểm vật nuôi, cây trồng, bảo hiểm tàu thuyền phục vụ đánh bắt thủy sản, tái bảo hiểm và bảo hiểm cho công trình, thiết bị dầu khí do nhà thầu nước ngoài thuê hoạt động tại vùng biển Việt Nam. Đồng thời làm rõ hoạt động «bán nợ» bao gồm cả bán khoản phải trả, khoản phải thu và bán chứng chỉ tiền gửi. Về khấu trừ thuế GTGT đầu vào, nghị định quy định rõ hơn với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp từ 5 triệu đồng trở lên: doanh nghiệp vẫn được khấu trừ thuế ngay cả khi chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (do chưa đến hạn thanh toán theo hợp đồng), nhưng đến hạn mà vẫn chưa có chứng từ thì phải kê khai điều chỉnh giảm số thuế đã khấu trừ; sau đó nếu có chứng từ hợp lệ thì được khấu trừ lại. Đáng chú ý nhất, nghị định thay thế toàn bộ Danh mục hàng hóa xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản (Phụ lục I - chưa chế biến, Phụ lục II - đã chế biến) làm căn cứ áp dụng chính sách thuế xuất khẩu theo định hướng hạn chế xuất khẩu tài nguyên khoáng sản thô. Doanh nghiệp xuất khẩu khoáng sản, kim loại (sắt, đồng, nhôm, thiếc, kẽm, đá quý, vàng bạc...) cần rà soát mã HS hàng hóa của mình theo danh mục mới để xác định đúng nghĩa vụ thuế xuất khẩu.
Thông tư 37/2026/TT-BCA: Sửa đổi quy định về đăng ký, kiểm định phương tiện giao thông
Circular 37/2026/TT-BCA: Amending Regulations on Vehicle Registration and Technical Inspection
Ngày 24/4/2026, Bộ Công an ban hành Thông tư 37/2026/TT-BCA sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư quy định về đăng ký và kiểm định phương tiện giao thông (đường bộ và đường thủy nội địa). Nội dung chính bao gồm cập nhật mẫu chứng nhận kiểm định, bổ sung quy định về đăng ký biến động và điều chỉnh thủ tục hành chính liên quan đến kiểm định xe. Thông tư có hiệu lực từ ngày 08/6/2026. Sổ kiểm định cấp trước ngày Thông tư có hiệu lực vẫn có giá trị sử dụng.
Thông tư 11/2026/TT-BXD quy định danh mục, quy cách và chỉ tiêu kỹ thuật khoáng sản làm vật liệu xây dựng được phép xuất khẩu
Circular 11/2026/TT-BXD specifying the list, specifications and technical standards for exportable construction material minerals
Bộ Xây dựng ban hành Thông tư 11/2026/TT-BXD (ngày 31/3/2026, có hiệu lực từ 01/6/2026) quy định danh mục, quy cách và chỉ tiêu kỹ thuật các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng thuộc nhóm II và nhóm III được phép xuất khẩu, theo quy định tại khoản 38 Điều 1 Nghị định 21/2026/NĐ-CP. Khoáng sản xuất khẩu phải có nguồn gốc hợp pháp, được chứng minh bằng Giấy phép khai thác khoáng sản hoặc giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản. Doanh nghiệp xuất khẩu có trách nhiệm lưu giữ hồ sơ và báo cáo định kỳ hàng năm trước ngày 15/01 gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Thông tư thay thế Thông tư số 04/2021/TT-BXD ngày 30/6/2021 kể từ ngày có hiệu lực. Danh mục xuất khẩu bao gồm nhiều loại khoáng sản như cát oxit silic, đá tự nhiên ốp lát (granit, đá hoa, đá phiến), đá xây dựng thông thường, cao lanh, tràng thạch và các khoáng sản vật liệu xây dựng khác kèm theo chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể.
Nghị định 127/2026/NĐ-CP: Quản lý chất lượng và chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal
Decree 127/2026/ND-CP: Quality Management and Development Policy for Halal Products and Services
Nghị định 127/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/6/2026, lần đầu tiên thiết lập khung pháp lý toàn diện về quản lý chất lượng và phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal tại Việt Nam. Nghị định áp dụng cho tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ Halal (thực phẩm, du lịch, vận chuyển, bảo quản...) cũng như các tổ chức thử nghiệm, chứng nhận Halal. Doanh nghiệp phải công bố tiêu chuẩn Halal áp dụng trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, đảm bảo nguyên liệu không chứa thành phần Haram/Najis, kiểm soát nhiễm chéo trong sản xuất, bao gói, vận chuyển, và ghi rõ cụm từ «HALAL» trên nhãn (trừ khi sản phẩm đã có Dấu chứng nhận Halal). Việc chứng nhận Halal về nguyên tắc là tự nguyện, trừ khi văn bản chuyên ngành quy định bắt buộc. Tổ chức chứng nhận Halal trong nước phải được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, với điều kiện tối thiểu 2 chuyên gia đánh giá là người Hồi giáo có trình độ đại học và chứng chỉ chuyên môn. Kết quả chứng nhận của tổ chức nước ngoài được thừa nhận nếu nằm trong thỏa thuận MRA hoặc được Bộ công nhận đơn phương. Nghị định cũng quy định về kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính, và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa: hỗ trợ chi phí thử nghiệm/chứng nhận một lần cho doanh nghiệp xuất khẩu chủ lực, hỗ trợ xúc tiến thương mại tại hội chợ Halal quốc tế, và xây dựng Cơ sở dữ liệu Halal quốc gia. Doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu thực phẩm, mỹ phẩm, dịch vụ du lịch nhắm đến thị trường Hồi giáo (Trung Đông, Malaysia, Indonesia...) nên rà soát quy trình sản xuất và chuẩn bị hồ sơ công bố tiêu chuẩn trước ngày 01/6/2026.
Văn bản hợp nhất số 15/VBHN-BCT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kỹ thuật điện (kiểm định, vận hành, thi công trang thiết bị điện)
Consolidated Document No. 15/VBHN-BCT: National Technical Regulation on Electrical Engineering (Testing, Operation and Construction of Power Equipment)
Đây là văn bản hợp nhất do Bộ Công Thương xác thực ngày 13/03/2026, gộp Thông tư số 40/2009/TT-BCT (ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kỹ thuật điện, hiệu lực từ 29/03/2010) với nội dung sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 51/2025/TT-BCT ngày 11/11/2025 (ban hành Quy chuẩn QCVN 26:2025/BCT về Kỹ thuật điện - Hệ thống lưới điện, có hiệu lực từ 01/06/2026). Văn bản quy định các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN QTĐ-5, QTĐ-6, QTĐ-7 áp dụng cho việc kiểm định, vận hành - bảo dưỡng và thi công trang thiết bị lưới điện (đường dây, trạm biến áp đến 500 kV), nhà máy thuỷ điện công suất từ 30 MW trở lên và nhà máy nhiệt điện công suất từ 1 MW trở lên nối với lưới điện quốc gia. Nội dung chủ yếu là các quy trình kỹ thuật: kiểm tra trong khi lắp đặt, kiểm tra hoàn thành trước vận hành, và kiểm tra định kỳ (thường 3 năm một lần) đối với máy phát điện, máy biến áp, tua bin thuỷ lực, đập và công trình thuỷ công - bao gồm đo điện trở tiếp đất, đo điện trở cách điện, thử nghiệm điện môi, đo độ rung, thử nghiệm sa thải phụ tải... Thông tư số 51/2025/TT-BCT đã bãi bỏ toàn bộ 6 chương của Phần II (kiểm định trang thiết bị lưới điện, trạm biến áp, đường dây) trong Tập 5 cũ, thay thế bằng Quy chuẩn mới QCVN 26:2025/BCT kèm theo, có hiệu lực từ 01/06/2026. Đây là quy chuẩn kỹ thuật - an toàn điện dành cho ngành điện lực (chủ đầu tư nhà máy điện, đơn vị truyền tải - phân phối điện), không liên quan đến thuế, kế toán, hoá đơn điện tử, lao động hay hải quan. Do đó nội dung nằm ngoài phạm vi nghiệp vụ chính mà RegHub theo dõi cho SME và kế toán viên, chỉ mang tính tham khảo kỹ thuật cho doanh nghiệp trong lĩnh vực điện lực.
Thông tư 22/2026/TT-BNNMT: Sửa đổi, đơn giản hóa thủ tục hành chính lĩnh vực nông nghiệp và môi trường
Circular 22/2026/TT-BNNMT: Simplifying Administrative Procedures Across Agriculture and Environment Sectors
Ngày 19/5/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Thông tư số 22/2026/TT-BNNMT, sửa đổi, bổ sung nhiều thông tư liên quan đến phân cấp, cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong 7 lĩnh vực: trồng trọt và bảo vệ thực vật, quản lý chất lượng nông lâm thủy sản (an toàn thực phẩm), biến đổi khí hậu (đăng ký tín chỉ các-bon), khoa học công nghệ, tài nguyên môi trường biển và hải đảo, chăn nuôi và thú y, và môi trường. Điểm đáng chú ý với doanh nghiệp: rút ngắn nhiều thời hạn giải quyết thủ tục (ví dụ công nhận lưu hành đặc cách giống cây trồng từ 15 xuống 10 ngày làm việc; một số bước từ 10 xuống 5 ngày); chuyển thẩm quyền kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu từ Cục Thú y, Cục Bảo vệ thực vật (Trung ương) về cơ quan được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định; đơn giản hóa hồ sơ xin Giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) cho hàng xuất khẩu và Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; rút ngắn thời hạn thẩm định hồ sơ đăng ký, gia hạn thuốc thú y; đơn giản hóa thủ tục hủy đăng ký và chuyển quyền sở hữu tín chỉ các-bon, hạn ngạch phát thải khí nhà kính trên Hệ thống đăng ký quốc gia. Thông tư có hiệu lực từ ngày 19/5/2026, riêng Điều 2, Điều 3 (kiểm tra an toàn thực phẩm nhập khẩu) có hiệu lực từ 01/9/2026 và Điều 6 (đăng ký tín chỉ các-bon) có hiệu lực từ 01/8/2026. Hồ sơ đã nộp trước ngày hiệu lực tiếp tục xử lý theo quy định cũ. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông sản, thực phẩm xuất nhập khẩu, chăn nuôi, thuốc thú y và thị trường các-bon nên rà soát lại quy trình nội bộ để tận dụng thời hạn xử lý được rút ngắn và xác định đúng cơ quan có thẩm quyền mới, thường là cấp tỉnh thay vì cấp Trung ương.
Nghị định số 106/2026/NĐ-CP quy định về đầu tư xây dựng, quản lý khai thác cảng cạn
Decree No. 106/2026/ND-CP on Investment, Construction, Management and Operation of Inland Container Depots (Dry Ports)
Ngày 31/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 106/2026/NĐ-CP quy định về đầu tư xây dựng, quản lý khai thác cảng cạn (ICD), có hiệu lực từ ngày 15/5/2026 và thay thế Nghị định số 38/2017/NĐ-CP. Nghị định áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài tham gia đầu tư, xây dựng, quản lý hoặc khai thác cảng cạn - loại hình hạ tầng đóng vai trò đầu mối vận tải gắn với cảng biển, cảng hàng không, đường thủy nội địa, đường sắt và cửa khẩu đường bộ, đồng thời có chức năng như một cửa khẩu làm thủ tục hải quan cho hàng xuất nhập khẩu. Văn bản quy định rõ tiêu chí xác định cảng cạn (diện tích tối thiểu 5 ha đối với cảng cạn hình thành mới), các hạng mục hạ tầng bắt buộc, danh mục dịch vụ được cung cấp tại cảng cạn (bốc xếp, lưu kho bãi, đại lý hải quan, kiểm dịch, đóng gói, gia công...), cũng như trình tự, thủ tục, thời hạn cụ thể để công bố mở cảng cạn, tạm dừng hoạt động hoặc đóng cảng cạn. Nghị định cũng phân định rõ trách nhiệm phối hợp giữa Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, cơ quan hải quan, kiểm dịch và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý nhà nước đối với hoạt động cảng cạn. Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà đầu tư hạ tầng logistics, doanh nghiệp khai thác cảng cạn và doanh nghiệp xuất nhập khẩu sử dụng dịch vụ tại cảng cạn, Nghị định đặt ra các nghĩa vụ cụ thể như: nộp hồ sơ công bố mở cảng cạn qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, niêm yết giá dịch vụ công khai, kết nối dữ liệu với cơ chế một cửa quốc gia, và báo cáo định kỳ tình hình hoạt động cho Bộ Xây dựng trước ngày 20/12 hàng năm. Doanh nghiệp đang đầu tư hoặc khai thác cảng cạn, cũng như doanh nghiệp logistics sử dụng cảng cạn để thông quan hàng hóa, nên rà soát lại quy trình nội bộ để phù hợp với các mốc thời gian và hồ sơ mới trước ngày Nghị định có hiệu lực.
Quyết định 823/QĐ-TTg phê duyệt đề cương điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia 2021-2030, tầm nhìn 2050
Decision 823/QD-TTg Approving the Terms of Reference for Revising the National Forestry Planning 2021-2030, Vision to 2050
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề cương điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là văn bản phê duyệt đề cương (tức chỉ là khuôn khổ phương pháp luận) để tiến hành lập điều chỉnh quy hoạch, chưa phải bản quy hoạch được điều chỉnh. Văn bản căn cứ Luật Lâm nghiệp, Luật Quy hoạch, các nghị quyết Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và quy hoạch tổng thể quốc gia. Không có tác động trực tiếp đến nghĩa vụ thuế hay tài chính doanh nghiệp SME. Quyết định ký ngày 11 tháng 5 năm 2026.


