Ngày 31/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 106/2026/NĐ-CP quy định về đầu tư xây dựng, quản lý khai thác cảng cạn (ICD), có hiệu lực từ ngày 15/5/2026 và thay thế Nghị định số 38/2017/NĐ-CP. Nghị định áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài tham gia đầu tư, xây dựng, quản lý hoặc khai thác cảng cạn - loại hình hạ tầng đóng vai trò đầu mối vận tải gắn với cảng biển, cảng hàng không, đường thủy nội địa, đường sắt và cửa khẩu đường bộ, đồng thời có chức năng như một cửa khẩu làm thủ tục hải quan cho hàng xuất nhập khẩu. Văn bản quy định rõ tiêu chí xác định cảng cạn (diện tích tối thiểu 5 ha đối với cảng cạn hình thành mới), các hạng mục hạ tầng bắt buộc, danh mục dịch vụ được cung cấp tại cảng cạn (bốc xếp, lưu kho bãi, đại lý hải quan, kiểm dịch, đóng gói, gia công...), cũng như trình tự, thủ tục, thời hạn cụ thể để công bố mở cảng cạn, tạm dừng hoạt động hoặc đóng cảng cạn. Nghị định cũng phân định rõ trách nhiệm phối hợp giữa Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, cơ quan hải quan, kiểm dịch và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý nhà nước đối với hoạt động cảng cạn. Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà đầu tư hạ tầng logistics, doanh nghiệp khai thác cảng cạn và doanh nghiệp xuất nhập khẩu sử dụng dịch vụ tại cảng cạn, Nghị định đặt ra các nghĩa vụ cụ thể như: nộp hồ sơ công bố mở cảng cạn qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, niêm yết giá dịch vụ công khai, kết nối dữ liệu với cơ chế một cửa quốc gia, và báo cáo định kỳ tình hình hoạt động cho Bộ Xây dựng trước ngày 20/12 hàng năm. Doanh nghiệp đang đầu tư hoặc khai thác cảng cạn, cũng như doanh nghiệp logistics sử dụng cảng cạn để thông quan hàng hóa, nên rà soát lại quy trình nội bộ để phù hợp với các mốc thời gian và hồ sơ mới trước ngày Nghị định có hiệu lực.
Nghị định số 106/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về đầu tư xây dựng, quản lý khai thác cảng cạn, áp dụng cho tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có liên quan. Cảng cạn được định nghĩa là bộ phận thuộc kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, là đầu mối tổ chức vận tải gắn liền với cảng biển, cảng hàng không, cảng đường thủy nội địa, ga đường sắt, cửa khẩu đường bộ, đồng thời có chức năng như cửa khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Tiêu chí xác định cảng cạn thực hiện theo Bộ luật Hàng hải Việt Nam, bổ sung yêu cầu diện tích tối thiểu 5 ha đối với cảng cạn hình thành mới. Kết cấu hạ tầng bắt buộc gồm: hệ thống kho bãi; các hạng mục bảo đảm an ninh trật tự (cổng, tường rào, thiết bị soi chiếu, cơ sở xử lý chất thải); bãi đỗ xe và trang thiết bị bốc xếp; đường giao thông nội bộ kết nối ra ngoài; khu văn phòng cho các cơ quan liên quan như hải quan, kiểm dịch. Bộ Xây dựng có trách nhiệm ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cảng cạn.
Dịch vụ tại cảng cạn bao gồm hai nhóm chính: dịch vụ hỗ trợ vận tải (bốc xếp container và hàng hóa, lưu kho bãi, đại lý vận tải, đại lý thủ tục hải quan, kiểm đếm, sửa chữa vệ sinh container, khử trùng kiểm dịch) và dịch vụ gia tăng giá trị (đóng gói, phân loại, dán nhãn, gia công, lắp ráp, kiểm định).
Chủ đầu tư nộp hồ sơ (trực tiếp, qua bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia) đến Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, gồm: tờ khai theo mẫu, quyết định phê duyệt dự án đầu tư, giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, biên bản nghiệm thu công trình, và quyết định phê duyệt đánh giá tác động môi trường. Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam thẩm định trong tối đa 4 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, sau đó đề nghị Bộ Xây dựng ra quyết định công bố mở cảng cạn trong 2 ngày làm việc tiếp theo.
Tạm dừng hoạt động áp dụng khi bảo dưỡng, sửa chữa; đóng cảng cạn áp dụng khi: (i) vì lý do quốc phòng, an ninh; (ii) có nguy cơ mất an toàn, sự cố công trình; hoặc (iii) dự án đầu tư chấm dứt hoặc doanh nghiệp không còn nhu cầu khai thác. Thẩm quyền quyết định đóng cảng cạn thuộc Bộ trưởng Bộ Xây dựng đối với hai trường hợp đầu, và thuộc chủ đầu tư/doanh nghiệp khai thác đối với trường hợp thứ ba, kèm theo nghĩa vụ thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tài chính và Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam.
Tên cảng cạn phải bằng tiếng Việt (có thể kèm tiếng Anh), bắt đầu bằng cụm từ «Cảng cạn», không được trùng lặp, gây nhầm lẫn hoặc vi phạm thuần phong mỹ tục. Chủ đầu tư quyết định hình thức và phương án khai thác kết cấu hạ tầng cảng cạn; đối với hạ tầng do Nhà nước đầu tư, việc quản lý khai thác thực hiện theo pháp luật về tài sản công.
Các cơ quan chuyên ngành tại cảng cạn (hải quan, kiểm dịch y tế, động vật, thực vật) chịu trách nhiệm bố trí nhân sự và phối hợp thực hiện thủ tục. Bộ Xây dựng chủ trì quản lý nhà nước, điều phối liên ngành; Bộ Tài chính quản lý hải quan, giá, phí, lệ phí tại cảng cạn. Doanh nghiệp khai thác cảng cạn có trách nhiệm ban hành «Nội quy cảng cạn», kê khai niêm yết giá dịch vụ, kết nối dữ liệu với cơ chế một cửa quốc gia, phối hợp phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại, và báo cáo tình hình hoạt động cho Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước ngày 20/12 hàng năm.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/5/2026, thay thế Nghị định số 38/2017/NĐ-CP và bãi bỏ một số điều khoản liên quan tại Nghị định số 74/2023/NĐ-CP và Nghị định số 144/2025/NĐ-CP. Đối với điểm thông quan hàng hóa đã nộp hồ sơ chuyển đổi thành cảng cạn nhưng chưa được chấp thuận chủ trương trước ngày Nghị định có hiệu lực, không phải thực hiện lại thủ tục chấp thuận chủ trương chuyển đổi; việc công bố mở cảng cạn thực hiện theo quy định mới.