Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành văn bản hợp nhất số 34/VBHN-NHNN ngày 22/01/2026, gộp toàn bộ nội dung của Thông tư số 37/2013/TT-NHNN với các nội dung sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ theo Thông tư số 78/2025/TT-NHNN (có hiệu lực từ 25/01/2026). Văn bản hướng dẫn việc mở, sử dụng tài khoản và thủ tục đăng ký ngoại hối đối với hoạt động cho vay ra nước ngoài và việc thu hồi nợ phát sinh khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho người không cư trú. Đối tượng áp dụng là các tổ chức kinh tế đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép cho vay hoặc bảo lãnh cho bên nước ngoài, không áp dụng chung cho mọi doanh nghiệp. So với quy định trước đây, đợt sửa đổi 2025 - 2026 đơn giản hóa đáng kể thủ tục: bãi bỏ một số điểm, khoản về thành phần hồ sơ và các trường hợp bắt buộc đăng ký; bổ sung Điều 7a quy định ba kênh nộp hồ sơ (trực tiếp tại Bộ phận Một cửa của NHNN, qua bưu chính, hoặc trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia) và cho phép chữ ký số. Tên đơn vị đầu mối cũng đổi từ 'Vụ Quản lý Ngoại hối' thành 'Cục Quản lý ngoại hối', còn một số nội dung riêng cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được tách khỏi phạm vi điều chỉnh trực tiếp của văn bản này. Doanh nghiệp đã hoặc dự kiến được Thủ tướng Chính phủ cho phép cho vay ra nước ngoài, hoặc bảo lãnh cho bên không cư trú, cần lưu ý: mở tài khoản chuyên dụng tại một tổ chức tín dụng trước khi chuyển tiền; đăng ký hoặc đăng ký thay đổi khoản vay, khoản thu hồi nợ bảo lãnh với NHNN trong 30 ngày kể từ ngày ký thỏa thuận (hoặc 60 ngày kể từ ngày chuyển tiền thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh); và báo cáo hàng tháng (trước ngày 10 tháng sau), hàng năm (trước 31/01) cho Cục Quản lý ngoại hối. Hồ sơ đã nộp đầy đủ trước ngày 25/01/2026 tiếp tục xử lý theo quy định cũ.
Đây là văn bản hợp nhất số 34/VBHN-NHNN do Phó Thống đốc Đoàn Thái Sơn ký xác thực ngày 22/01/2026, hợp nhất:
Thông tư quy định về: mở và sử dụng tài khoản để thực hiện khoản cho vay ra nước ngoài, thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và thu hồi nợ bảo lãnh cho người không cư trú của tổ chức kinh tế; và thủ tục đăng ký, đăng ký thay đổi các khoản này với NHNN.
Đối tượng áp dụng gồm: tổ chức kinh tế được Thủ tướng Chính phủ cho phép cho vay đối với người không cư trú ('Bên cho vay'); tổ chức kinh tế được Thủ tướng Chính phủ cho phép bảo lãnh cho người không cư trú ('Bên bảo lãnh'); và các tổ chức, cá nhân liên quan. Hoạt động cho vay, bảo lãnh cho người không cư trú của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không thuộc phạm vi điều chỉnh trực tiếp của văn bản này mà theo quy định riêng của NHNN.
Hồ sơ đăng ký, đăng ký thay đổi có thể nộp theo ba cách: trực tiếp tại Bộ phận Một cửa của NHNN; qua dịch vụ bưu chính; hoặc trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia (sử dụng chữ ký số). Hồ sơ phải lập bằng tiếng Việt; tài liệu gốc bằng tiếng nước ngoài phải được dịch và chứng thực chữ ký người dịch (trừ các thỏa thuận do chính bên cho vay, bên bảo lãnh tự dịch và chịu trách nhiệm). Thời hạn kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ là 3 ngày làm việc.
Hồ sơ gồm: đơn đăng ký (Phụ lục 1); văn bản chấp thuận đầu tư của nước tiếp nhận (nếu bên vay có vốn góp trực tiếp từ Việt Nam); thỏa thuận cho vay; văn bản, thỏa thuận về biện pháp bảo đảm (nếu có). Trong 30 ngày kể từ ngày ký thỏa thuận cho vay và trước khi giải ngân, Bên cho vay nộp hồ sơ cho NHNN. Trong 15 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, NHNN gửi văn bản xác nhận đăng ký hoặc từ chối có nêu rõ lý do. Nếu hồ sơ chưa đủ điều kiện, NHNN có văn bản yêu cầu bổ sung trong 7 ngày làm việc; sau 60 ngày kể từ thông báo mà không hoàn thiện, hồ sơ sẽ bị đóng.
Khi có thay đổi nội dung đã được xác nhận, Bên cho vay phải đăng ký thay đổi trong 30 ngày kể từ ngày ký thỏa thuận thay đổi, với hồ sơ bổ sung gồm đơn đăng ký thay đổi (Phụ lục 2), các thỏa thuận thay đổi, ý kiến chấp thuận của bên bảo lãnh thứ ba (nếu có), và văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ khi tăng số tiền vay, kéo dài thời hạn, hoặc đổi bên cho vay. Thời hạn xử lý cũng là 15 ngày làm việc.
Trường hợp bên được bảo lãnh thanh toán lại cho Bên bảo lãnh trong vòng 30 ngày kể từ ngày thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, không cần đăng ký khoản thu hồi nợ. Ngoài trường hợp này, trong 60 ngày kể từ ngày chuyển tiền thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, Bên bảo lãnh nộp hồ sơ gồm: đơn đăng ký (Phụ lục 3); văn bản của bên nhận bảo lãnh yêu cầu thực hiện nghĩa vụ; cam kết bảo lãnh, thỏa thuận cấp bảo lãnh đã ký; chứng từ chuyển tiền có xác nhận của tổ chức tín dụng. NHNN xác nhận đăng ký trong 10 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ. Đăng ký thay đổi thực hiện tương tự, với đơn theo Phụ lục 4.
Trước khi chuyển tiền liên quan đến khoản vay hoặc khoản bảo lãnh, tổ chức kinh tế phải mở một tài khoản chuyên dụng (tài khoản cho vay ra nước ngoài hoặc tài khoản thực hiện bảo lãnh) tại một tổ chức tín dụng cung ứng dịch vụ tài khoản; mọi giao dịch giải ngân, trả nợ, thu hồi nợ, phí phải thực hiện qua tài khoản này. Tổ chức tín dụng có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu chứng từ để đảm bảo giao dịch phù hợp với nội dung đã được NHNN xác nhận đăng ký.
Bên cho vay báo cáo NHNN (Cục Quản lý ngoại hối) tình hình cho vay ra nước ngoài hàng tháng (trước ngày 10 tháng sau, theo Phụ lục 5) và hàng năm (trước 31/01 năm sau). Bên bảo lãnh báo cáo khoản bảo lãnh mới trong 10 ngày làm việc kể từ ngày ký cam kết (Phụ lục 6), và báo cáo tình hình thu hồi nợ bảo lãnh hàng tháng, hàng năm (Phụ lục 7). Tổ chức tín dụng cung ứng dịch vụ tài khoản báo cáo theo chế độ báo cáo thống kê chung của NHNN.
NHNN tiến hành thanh tra, kiểm tra khi cần thiết; vi phạm bị xử lý theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Thông tư số 78/2025/TT-NHNN có hiệu lực từ 25/01/2026 và bãi bỏ một loạt điều khoản cũ tại các Thông tư 37/2013, 29/2015, 10/2016, 15/2019, 10/2022, 24/2022 và 23/2024/TT-NHNN liên quan đến lĩnh vực này. Về điều khoản chuyển tiếp: đối tượng thực hiện thủ tục không phải nộp bổ sung hồ sơ đã bị bãi bỏ nếu đã được yêu cầu trước ngày hiệu lực; hồ sơ đã nộp đầy đủ, hợp lệ trước ngày hiệu lực tiếp tục được xử lý theo quy định cũ tại thời điểm nộp.