Nghị định số 100/2026/NĐ-CP (ban hành ngày 31/3/2026) sửa đổi, bổ sung Nghị định số 65/2023/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, nhằm cụ thể hóa các nội dung mới của Luật số 131/2025/QH15. Điểm đáng chú ý nhất là quy định lần đầu tiên về quyền sở hữu đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp do trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ tạo ra: chỉ được cấp văn bằng bảo hộ nếu con người chứng minh có «đóng góp đáng kể» theo 4 tiêu chí cụ thể (xác định vấn đề, chọn dữ liệu đầu vào, tinh chỉnh kết quả AI, quyết định kết quả cuối cùng); nếu không đáp ứng, người tạo ra chỉ có quyền sử dụng, không được độc quyền. Nghị định cũng bổ sung cơ chế thẩm định nội dung nhanh cho đơn sáng chế thuộc công nghệ chiến lược hoặc phục vụ tình huống khẩn cấp, và đơn nhãn hiệu bắt buộc để được cấp phép kinh doanh - giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian chờ cấp văn bằng. Song song, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về sở hữu công nghiệp, hệ thống quản lý chỉ dẫn địa lý, và cơ sở dữ liệu giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ (phục vụ định giá khi doanh nghiệp góp vốn, thế chấp bằng quyền sở hữu trí tuệ), cùng yêu cầu các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đầu tư hệ thống tự động phát hiện, xử lý xâm phạm trên mạng. Đối tượng chịu tác động chính là doanh nghiệp công nghệ, trung tâm R&D, chủ sở hữu sáng chế/nhãn hiệu, và nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến khung pháp lý bảo hộ IP tại Việt Nam. Doanh nghiệp sử dụng AI trong nghiên cứu phát triển nên lưu hồ sơ chứng minh vai trò sáng tạo của con người để bảo vệ khả năng đăng ký sáng chế sau này. Lưu ý: tài liệu nguồn dùng để biên soạn bài viết bị cắt trước điều khoản hiệu lực thi hành, nên ngày có hiệu lực chưa được xác nhận trong bài viết này.
Nghị định số 100/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 31/3/2026, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 65/2023/NĐ-CP (đã được sửa đổi bởi Nghị định số 15/2026/NĐ-CP và Nghị định số 33/2026/NĐ-CP) quy định chi tiết thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp. Văn bản cụ thể hóa Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ, tập trung vào: quyền sở hữu công nghiệp đối với sản phẩm sáng tạo có sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), chấm dứt việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ khi một đối tượng có nhiều quyền chồng lấn, quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ, chuyển đổi số hoạt động sở hữu trí tuệ, kiểm soát an ninh đối với sáng chế trước khi nộp đơn ra nước ngoài, đơn đăng ký sáng chế mật, thẩm định nội dung nhanh đối với đơn sáng chế và nhãn hiệu, thủ tục đăng ký hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, và đào tạo, quản lý đại diện sở hữu công nghiệp.
Điểm mới đáng chú ý nhất: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo chỉ được xác lập quyền sở hữu công nghiệp nếu con người có «đóng góp đáng kể» vào việc sáng tạo. Con người chỉ được coi là có đóng góp đáng kể khi thực hiện đầy đủ bốn hoạt động: (i) xác định vấn đề cần giải quyết kèm ý tưởng giải pháp cụ thể, không chỉ mô tả chung chung; (ii) tự lựa chọn dữ liệu đầu vào, mục tiêu, ràng buộc, tham số từ ý tưởng sáng tạo của mình, không chỉ dựa vào dữ liệu sẵn có hoặc gợi ý tự động của AI; (iii) đánh giá, lựa chọn, tinh chỉnh làm thay đổi cấu trúc hoặc chức năng cốt lõi của kết quả do AI tạo ra, tạo ra giá trị mới; (iv) quyết định kết quả cuối cùng được yêu cầu bảo hộ. Nếu không đáp ứng đủ các điều kiện này, người tạo ra chỉ có quyền sử dụng và cho phép người khác sử dụng đối tượng đó, không được cấp văn bằng bảo hộ độc quyền. Đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh có sử dụng AI, việc bảo hộ vẫn áp dụng các điều kiện thông thường của pháp luật sở hữu trí tuệ.
Doanh nghiệp công nghệ, trung tâm R&D sử dụng công cụ AI trong nghiên cứu, phát triển sản phẩm cần lưu hồ sơ chứng minh mức độ can thiệp, sáng tạo của con người trong quy trình để bảo vệ khả năng đăng ký bằng sáng chế sau này.
Nghị định bổ sung cơ chế thẩm định nội dung nhanh (rút ngắn thời hạn xử lý) áp dụng cho: đơn sáng chế thuộc Danh mục công nghệ chiến lược hoặc phục vụ tình huống khẩn cấp (an ninh, quốc phòng, thiên tai, dịch bệnh) đã được khai thác thương mại; và đơn nhãn hiệu gắn với hàng hóa sản xuất theo sáng chế chiến lược, hoặc nhãn hiệu là điều kiện bắt buộc để được cấp phép sản xuất, kinh doanh. Điều kiện đi kèm gồm: đơn sáng chế không quá 10 điểm yêu cầu bảo hộ (tối đa 2 điểm độc lập), có yêu cầu công bố sớm, không phải đơn tách hoặc đơn chuyển đổi; đơn nhãn hiệu phải nộp trực tiếp (không qua hệ thống đơn quốc tế), không phải nhãn hiệu tập thể, chứng nhận, ba chiều hoặc âm thanh. Người nộp đơn phải nộp phí thẩm định nhanh và yêu cầu phải nộp đồng thời với đơn đăng ký.
Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm xây dựng ba hệ thống dữ liệu mới: cơ sở dữ liệu về sở hữu công nghiệp (đơn đăng ký, văn bằng bảo hộ), hệ thống thông tin quản lý chỉ dẫn địa lý, và cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ (ghi nhận giá trị các giao dịch chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng, thế chấp, góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ). Các bộ, ngành, địa phương liên quan có trách nhiệm cập nhật dữ liệu giao dịch trong phạm vi quản lý, tối thiểu định kỳ hằng năm. Song song, các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (Tòa án, Hải quan, Công an, Quản lý thị trường, Ủy ban nhân dân các cấp) được yêu cầu đầu tư hệ thống tự động hóa để phát hiện, giám sát hành vi xâm phạm trên không gian mạng và xử lý theo thẩm quyền (yêu cầu gỡ nội dung, tạm ngừng tài khoản vi phạm).
Doanh nghiệp sở hữu quyền sở hữu trí tuệ cũng được khuyến khích (không bắt buộc) lập Danh mục nội bộ các quyền sở hữu trí tuệ chưa đủ điều kiện ghi nhận là tài sản trên sổ kế toán, để phục vụ quản trị, định giá khi góp vốn, thế chấp vay vốn, hoặc chứng minh năng lực với nhà đầu tư, đối tác. Danh mục này không thay thế nghĩa vụ lập báo cáo tài chính theo pháp luật kế toán.
Sáng chế thuộc danh mục bí mật nhà nước, có tác động đến quốc phòng - an ninh, tạo ra tại Việt Nam bởi công dân hoặc tổ chức Việt Nam, chỉ được nộp đơn đăng ký ở nước ngoài sau khi được Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an cho phép. Hồ sơ đề nghị gồm tờ khai theo mẫu, bản mô tả sáng chế, văn bản xác định thuộc bí mật nhà nước. Cơ quan có thẩm quyền thẩm định trong 30 ngày kể từ khi nhận đơn hợp lệ.
Nghị định quy định cụ thể hồ sơ, trình tự đăng ký sửa đổi, gia hạn, chấm dứt trước hạn hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (thời hạn xử lý 30 ngày), cũng như điều kiện đào tạo nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp. Theo phạm vi điều chỉnh nêu tại Điều 1 của Nghị định, văn bản còn quy định thêm về việc ghi nhận, xóa tên đại diện sở hữu công nghiệp, thu hồi chứng chỉ hành nghề, tổ chức hoạt động giám định quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng, và việc tiêu hủy hàng hóa giả mạo nhãn hiệu - các nội dung chi tiết nằm ở phần cuối văn bản, chưa có trong tài liệu nguồn được trích xuất cho bài viết này.
Lưu ý: Bản trích xuất từ Công báo dùng để biên soạn bài viết này bị cắt ở Điều 31, chưa tới điều khoản hiệu lực thi hành; ngày hiệu lực chính thức chưa được xác nhận và cần tra cứu bản đầy đủ trên Công báo Chính phủ.