Từ ngày 1/7/2026, Nghị định số 252/2026/ND-CP chính thức có hiệu lực, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế 2025 (Luật số 108/2025/QH15). Nghị định này đi kèm hai thông tư của Bộ Tài chính là Thông tư 89/2026/TT-BTC (hướng dẫn chi tiết Luật và Nghị định 252) và Thông tư 90/2026/TT-BTC (quy định về đăng ký thuế). Bộ ba văn bản này hợp nhất và thay thế năm nghị định cũ (bao gồm Nghị định 126/2020, 91/2022, 49/2025, 117/2025 và 373/2025), nhằm đơn giản hóa và đồng bộ hóa khung pháp lý về quản lý thuế. Những thay đổi đáng chú ý gồm: chuẩn hóa thời hạn đăng ký và thông báo thuế cho nhiều loại người nộp thuế (ví dụ đăng ký thuế lần đầu trong 10 ngày làm việc, đăng ký người phụ thuộc giảm trừ thuế thu nhập cá nhân trước 31/12 hàng năm); cơ chế mới cho phép doanh nghiệp đang bị cưỡng chế hóa đơn vẫn được xuất hóa đơn nếu nộp trước tối thiểu 18% giá trị thanh toán vào ngân sách; cập nhật thủ tục hoàn thuế giá trị gia tăng theo hướng giảm giấy tờ và số hóa; quy định khấu trừ và kê khai thuế đối với nhà cung cấp thương mại điện tử nước ngoài qua nền tảng; và làm rõ nghĩa vụ thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) không phải là điều kiện tiên quyết để chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Nghị định cũng siết chặt quy tắc tạm hoãn xuất cảnh đối với người nộp thuế nợ thuế, đồng thời tăng cường bảo vệ thông tin cá nhân khi công khai danh sách nợ thuế và mở rộng chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan thuế với hải quan, ngân hàng, cơ quan đất đai. Doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nên rà soát ngay quy trình quản trị thuế nội bộ, cập nhật thời hạn đăng ký thuế mới, đánh giá lại quy trình quản lý hóa đơn và đảm bảo bộ phận tài chính - thuế - pháp lý nắm rõ khung pháp lý hợp nhất này trước kỳ tuân thủ tiếp theo.
Từ ngày 1/7/2026, Nghị định số 252/2026/ND-CP có hiệu lực, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế 2025 (Luật số 108/2025/QH15), hợp nhất các quy định quản lý thuế hiện hành và bổ sung nhiều yêu cầu tuân thủ mới cho doanh nghiệp và cá nhân nộp thuế.
Nghị định đi kèm hai thông tư:
Ba văn bản này cùng nhau thay đổi đáng kể khung tuân thủ thuế của Việt Nam thông qua: thủ tục đăng ký và kê khai thuế sửa đổi, mẫu báo cáo thuế mới, mở rộng quản lý thuế điện tử, thêm nghĩa vụ báo cáo, thay đổi tần suất kê khai một số loại thuế, và quy định chi tiết hơn về nộp thuế, hoàn thuế, quản lý mã số thuế và cưỡng chế thuế.
Nghị định 252 đưa ra quy tắc rõ ràng hơn về tạm hoãn xuất cảnh với người nộp thuế còn nợ thuế, gồm ngưỡng nợ cụ thể, yêu cầu thông báo trước, và điều kiện linh hoạt hơn để gỡ bỏ hạn chế xuất cảnh. Nghị định cũng làm rõ thẩm quyền của cơ quan thuế trong việc ban hành và thu hồi quyết định tạm hoãn xuất cảnh.
Đối với doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thay đổi này đòi hỏi giám sát chặt chẽ tình trạng tuân thủ thuế, vì người đại diện pháp luật có thể bị hạn chế xuất cảnh khi đạt ngưỡng cưỡng chế.
| Yêu cầu | Thời hạn | Ghi chú |
|---|---|---|
| Đăng ký thuế lần đầu | 10 ngày làm việc | Áp dụng sau khi thành lập doanh nghiệp, bắt đầu hoạt động, hoặc ký hợp đồng nhà thầu nước ngoài |
| Đăng ký người phụ thuộc (giảm trừ PIT) | Trước 31/12 hàng năm | Áp dụng cho người nộp thuế yêu cầu giảm trừ gia cảnh |
| Thay đổi thông tin đăng ký thuế | 10 ngày làm việc | Áp dụng cho hầu hết thay đổi thông tin đăng ký |
| Cập nhật thông tin cá nhân | 20 ngày làm việc (30 ngày ở vùng núi, vùng sâu, biên giới, hải đảo) | |
| Thông báo tạm ngừng/hoạt động lại sớm | Trước ít nhất 1 ngày làm việc | Mỗi lần tạm ngừng tối đa 12 tháng |
Khi dữ liệu người nộp thuế được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, thay đổi thông tin cá nhân sẽ tự động đồng bộ, giảm bớt thủ tục hành chính.
Nghị định đưa ra cơ chế mới cho phép doanh nghiệp đang bị cưỡng chế hóa đơn vẫn tiếp tục xuất hóa đơn nếu đáp ứng điều kiện:
Sau khi được chấp thuận, việc cưỡng chế đối với số tiền tương ứng trong tài khoản ngân hàng của người nộp thuế sẽ được tạm dừng tối đa 10 ngày làm việc, giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động và dòng tiền.
Bảo vệ thông tin cá nhân: khi công khai danh sách người nợ thuế hoặc vi phạm thuế, cơ quan thuế chỉ được công bố tên người nộp thuế và 4 số cuối của CCCD hoặc hộ chiếu; các thông tin định danh còn lại phải được che.
Sự cố kỹ thuật hệ thống: khi hệ thống điện tử của cơ quan thuế gặp sự cố hoặc mất kết nối mạng, người nộp thuế có thể chờ hệ thống phục hồi hoặc nộp hồ sơ trực tiếp/qua bưu điện; không bị coi là chậm nộp nếu chậm trễ do sự cố hệ thống được xác nhận; mọi quyết định cưỡng chế hoặc hành chính ban hành sai do lỗi kỹ thuật phải được rút lại, hủy bỏ hoặc sửa đổi.
Nghị định 252 và Thông tư 89 cập nhật thủ tục hoàn thuế VAT, gồm: mẫu đơn và hồ sơ sửa đổi; giảm giấy tờ khi thông tin đã có qua hóa đơn điện tử hoặc hệ thống cơ quan thuế; cập nhật quy trình và thời hạn xử lý, đặc biệt với hồ sơ phải kiểm tra trước hoàn thuế; linh hoạt hơn khi rút hồ sơ hoàn thuế và chuyển số thuế đủ điều kiện sang khấu trừ đầu vào kỳ sau; và số hóa, chuẩn hóa quy trình hoàn thuế VAT hơn.
Nghị định 252 đưa ra yêu cầu tuân thủ thuế mới với nhà cung cấp nước ngoài kinh doanh thương mại điện tử và hoạt động số tại Việt Nam, gồm khấu trừ và báo cáo thuế qua nền tảng. Khi nền tảng đảm nhận nghĩa vụ này, nhà cung cấp nước ngoài có thể không cần tự kê khai, nộp thuế riêng cho các giao dịch đã được xử lý; ngược lại, họ vẫn phải tự chịu trách nhiệm tuân thủ thuế. Nghị định cũng thay đổi tần suất kê khai, báo cáo theo giao dịch, mẫu tờ khai và hồ sơ kèm theo.
Lần đầu tiên, Nghị định 252 đưa quy định về chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (trước đây theo Thông tư 186/2010/TT-BTC) vào khung quản lý thuế chính thức. Đáng chú ý, Nghị định khẳng định nghĩa vụ thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) không phải là điều kiện tiên quyết để chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, tạo sự chắc chắn hơn cho nhà đầu tư nước ngoài khi lập kế hoạch chia cổ tức hoặc thoái vốn.
Nghị định 252/2026/ND-CP hợp nhất khung quản lý thuế bằng cách bãi bỏ năm nghị định trước đây:
Nhiều quy định trong Nghị định 252 luật hóa thực tiễn hành chính hiện có, nhưng cũng có không ít thay đổi vận hành mà doanh nghiệp nên rà soát trước kỳ tuân thủ tới, cụ thể: