Nghị định số 101/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 31/3/2026, hướng dẫn chi tiết Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 sau khi được sửa đổi bởi Luật số 115/2025/QH15 và Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15. Nghị định quy định thẩm quyền, hồ sơ, trình tự thẩm định hoặc cho ý kiến về công nghệ trong dự án đầu tư có sử dụng công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao hoặc có nguy cơ tác động xấu đến môi trường, áp dụng ở các giai đoạn chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và quyết định đầu tư. Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp quy mô lớn triển khai dự án có yếu tố công nghệ nhạy cảm, hồ sơ dự án bắt buộc phải có nội dung giải trình chi tiết về công nghệ sử dụng (nguồn gốc, sơ đồ quy trình, rủi ro, biện pháp kiểm soát). Kết quả thẩm định được xếp vào một trong ba mức «Đạt», «Chưa đạt» hoặc «Không đạt», ảnh hưởng trực tiếp đến việc dự án có được chấp thuận hay không. Nghị định cũng quy định giá, phương thức thanh toán chuyển giao công nghệ (gồm cách tính giá bán tịnh loại trừ thuế giá trị gia tăng, và yêu cầu thẩm định giá khi các bên liên kết theo pháp luật thuế chuyển giao công nghệ cho nhau), đăng ký chuyển giao công nghệ, và nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ hỗ trợ, ưu đãi đã hưởng nếu Giấy chứng nhận đăng ký bị hủy hiệu lực. Ngoài ra, tổ chức, cá nhân tự nghiên cứu hoặc đầu tư tạo ra công nghệ có thể chủ động nộp hồ sơ xin thẩm định tại cơ quan khoa học công nghệ cấp tỉnh. Nghị định cũng thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất đối với cấp phép, cấp đăng ký chuyển giao công nghệ và việc tuân thủ cam kết công nghệ trong suốt dự án. Doanh nghiệp có dự án dùng công nghệ hạn chế chuyển giao, hoặc chuyển giao công nghệ nội bộ tập đoàn, nên rà soát ngay quy trình để đáp ứng mốc thời gian và hồ sơ mới.
Nghị định số 101/2026/NĐ-CP (ký ngày 31/3/2026, đăng Công báo số 218 ngày 16/4/2026) quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Giá số 16/2023/QH15, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 và Luật số 115/2025/QH15. Nghị định áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động thẩm định công nghệ, chuyển giao công nghệ, và các biện pháp khuyến khích ứng dụng, đổi mới công nghệ.
Đối với dự án đầu tư sử dụng công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao, hoặc có nguy cơ tác động xấu đến môi trường, việc thẩm định hoặc lấy ý kiến về công nghệ được thực hiện ở một trong các giai đoạn: chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (với dự án không thuộc diện chấp thuận chủ trương), hoặc giai đoạn quyết định đầu tư (với dự án có cấu phần xây dựng).
Thẩm quyền được phân theo cấp: Hội đồng thẩm định nhà nước (dự án do Quốc hội chấp thuận chủ trương), Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc bộ quản lý ngành (dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận), và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (các dự án còn lại).
Hồ sơ dự án phải có nội dung giải trình về sử dụng công nghệ, gồm: phương án công nghệ lựa chọn; xác định công nghệ có thuộc danh mục hạn chế hay không; lý do lựa chọn; rủi ro về môi trường, an toàn, sức khỏe; và biện pháp phòng ngừa, kiểm soát rủi ro. Thời hạn xử lý cụ thể: cơ quan tiếp nhận gửi hồ sơ trong 2-3 ngày làm việc; cơ quan chủ trì lấy ý kiến phối hợp trong 1 ngày; cơ quan phối hợp trả lời trong 5-8 ngày làm việc; nếu cần lập Hội đồng tư vấn thì thời gian họp hội đồng là 6-9 ngày làm việc (giai đoạn chấp thuận chủ trương) hoặc 5-30 ngày làm việc tùy nhóm dự án (giai đoạn quyết định đầu tư).
Kết luận thẩm định được xếp theo một trong ba mức: «Đạt» (đủ điều kiện tiếp tục xem xét), «Chưa đạt» (phải hoàn thiện, thẩm định lại), hoặc «Không đạt» (không đủ điều kiện triển khai). Nếu có Hội đồng tư vấn, mức «Đạt» yêu cầu ít nhất 3/4 thành viên đồng thuận, trong đó có các ủy viên phản biện.
Hội đồng tư vấn gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch (nếu có), ủy viên phản biện, thư ký và chuyên gia trong, ngoài nước; ít nhất 50% thành viên phải là chuyên gia đúng lĩnh vực công nghệ. Tổ chức, chuyên gia tư vấn độc lập cũng có thể được thuê để tham vấn, với điều kiện có tư cách pháp nhân, tối thiểu 5 chuyên gia đủ tiêu chuẩn, và không có quyền lợi liên quan đến dự án.
Tổ chức, cá nhân tự nghiên cứu hoặc đầu tư tạo ra công nghệ có thể chủ động nộp hồ sơ đề nghị thẩm định tại cơ quan chuyên môn khoa học và công nghệ cấp tỉnh nơi đăng ký trụ sở. Hồ sơ không được nộp trùng tại nhiều tỉnh. Quy trình gồm: kiểm tra hồ sơ (3 ngày làm việc), thành lập Hội đồng tư vấn (15 ngày làm việc), tổ chức họp hội đồng (15 ngày làm việc), và ra thông báo kết quả (5 ngày làm việc sau khi có kết quả họp). Kết quả thẩm định không thay thế nghĩa vụ tuân thủ pháp luật đầu tư, môi trường, an toàn hay ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Nghị định ban hành kèm theo ba danh mục: công nghệ khuyến khích chuyển giao (Phụ lục I), công nghệ hạn chế chuyển giao (Phụ lục II) và công nghệ cấm chuyển giao (Phụ lục III), được rà soát định kỳ 3 năm/lần hoặc đột xuất.
Về giá và thanh toán chuyển giao công nghệ, các bên có thể thỏa thuận trả một lần hoặc nhiều lần, góp vốn bằng giá trị công nghệ, trả theo phần trăm giá bán tịnh (đã trừ thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu), theo phần trăm doanh thu thuần, hoặc theo phần trăm lợi nhuận trước/sau thuế. Đáng chú ý, khi chuyển giao công nghệ có yếu tố vốn nhà nước hoặc giữa các bên có quan hệ công ty mẹ - công ty con, quan hệ liên kết theo pháp luật thuế, việc định giá phải qua tư vấn thẩm định giá công nghệ, và cơ quan quản lý thuế có quyền yêu cầu kiểm toán giá khi cần.
Việc đăng ký chuyển giao công nghệ (Điều 20-21) và thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký (5 ngày làm việc kể từ khi hồ sơ đầy đủ) được quy định chi tiết. Nếu Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ bị hủy bỏ hiệu lực, tổ chức, cá nhân đã hưởng hỗ trợ, ưu đãi từ ngân sách nhà nước phải hoàn trả toàn bộ trong vòng 20 ngày làm việc kể từ khi nhận thông báo.
Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ quản lý ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra hoạt động thẩm định công nghệ, việc cấp phép/cấp đăng ký chuyển giao công nghệ, và việc tuân thủ cam kết công nghệ trong dự án đầu tư thực hiện thủ tục đầu tư đặc biệt. Nội dung kiểm tra bao gồm thẩm quyền, hồ sơ, tính khách quan trong thẩm định, và việc chấp hành các cam kết đã giải trình. Kết luận kiểm tra được xếp theo mức đủ điều kiện, đủ điều kiện nhưng phải bổ sung, hoặc không đủ điều kiện triển khai dự án.
Bản gốc thu thập được của văn bản này bị cắt ở phần cuối Điều 30 (trình tự kiểm tra), trước khi đến điều khoản về hiệu lực thi hành. Do đó ngày hiệu lực của Nghị định chưa xác định được từ nguồn này và cần được xác minh lại khi có bản đầy đủ.