Nghị định 127/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/6/2026, lần đầu tiên thiết lập khung pháp lý toàn diện về quản lý chất lượng và phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal tại Việt Nam. Nghị định áp dụng cho tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ Halal (thực phẩm, du lịch, vận chuyển, bảo quản...) cũng như các tổ chức thử nghiệm, chứng nhận Halal. Doanh nghiệp phải công bố tiêu chuẩn Halal áp dụng trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, đảm bảo nguyên liệu không chứa thành phần Haram/Najis, kiểm soát nhiễm chéo trong sản xuất, bao gói, vận chuyển, và ghi rõ cụm từ «HALAL» trên nhãn (trừ khi sản phẩm đã có Dấu chứng nhận Halal). Việc chứng nhận Halal về nguyên tắc là tự nguyện, trừ khi văn bản chuyên ngành quy định bắt buộc. Tổ chức chứng nhận Halal trong nước phải được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, với điều kiện tối thiểu 2 chuyên gia đánh giá là người Hồi giáo có trình độ đại học và chứng chỉ chuyên môn. Kết quả chứng nhận của tổ chức nước ngoài được thừa nhận nếu nằm trong thỏa thuận MRA hoặc được Bộ công nhận đơn phương. Nghị định cũng quy định về kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính, và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa: hỗ trợ chi phí thử nghiệm/chứng nhận một lần cho doanh nghiệp xuất khẩu chủ lực, hỗ trợ xúc tiến thương mại tại hội chợ Halal quốc tế, và xây dựng Cơ sở dữ liệu Halal quốc gia. Doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu thực phẩm, mỹ phẩm, dịch vụ du lịch nhắm đến thị trường Hồi giáo (Trung Đông, Malaysia, Indonesia...) nên rà soát quy trình sản xuất và chuẩn bị hồ sơ công bố tiêu chuẩn trước ngày 01/6/2026.
Nghị định 127/2026/NĐ-CP (ban hành 06/4/2026, hiệu lực từ 01/6/2026) quy định về quản lý chất lượng và chính sách hỗ trợ, phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal tại Việt Nam, bao gồm: yêu cầu chất lượng, ghi nhãn, truy xuất nguồn gốc, thử nghiệm, chứng nhận Halal, kiểm tra, xử lý vi phạm và chính sách hỗ trợ.
Đối tượng áp dụng gồm: tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ Halal lưu thông tại Việt Nam; tổ chức thử nghiệm, tổ chức chứng nhận Halal; và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan. Sản phẩm phục vụ quốc phòng, an ninh không thuộc phạm vi điều chỉnh.
Việc quản lý chất lượng Halal phải bảo đảm thống nhất, minh bạch, không phân biệt đối xử, hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế (OIC, SMIIC, Codex Alimentarius) và dựa trên đánh giá rủi ro, truy xuất nguồn gốc xuyên suốt chuỗi cung ứng.
Tiêu chuẩn Halal áp dụng gồm: tiêu chuẩn quốc gia (TCVN, có sự tham gia của Bộ Dân tộc và Tôn giáo và chuyên gia Hồi giáo trong xây dựng), tiêu chuẩn quốc tế/khu vực/nước Hồi giáo (bắt buộc với hàng xuất khẩu theo hợp đồng, hoặc được phép áp dụng cho hàng tiêu thụ nội địa), hoặc tiêu chuẩn cơ sở tự công bố khi chưa có tiêu chuẩn tương ứng. Tổ chức, cá nhân phải công bố tiêu chuẩn áp dụng trước khi lưu thông sản phẩm, lưu giữ hồ sơ tiêu chuẩn tại nơi sản xuất và chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung công bố.
Sản phẩm Halal lưu thông tại Việt Nam phải: đáp ứng tiêu chuẩn đã công bố; sử dụng nguyên liệu, phụ gia Halal (không chứa Haram, Najis; động vật phải giết mổ theo quy trình Halal); kiểm soát vệ sinh và ngăn nhiễm chéo trong sản xuất, đóng gói, bảo quản, vận chuyển, trưng bày; tuân thủ pháp luật về nhãn hàng hóa và đo lường. Hàng xuất khẩu phải tuân thủ thêm quy định của nước nhập khẩu hoặc hợp đồng thương mại.
Nhãn sản phẩm Halal phải ghi rõ cụm từ «SẢN PHẨM HALAL» hoặc «HALAL» bằng chữ Latinh in hoa, ở vị trí dễ thấy, không tẩy xóa được. Không bắt buộc ghi nếu sản phẩm đã mang Dấu chứng nhận Halal, hoặc là nguyên liệu/phụ gia không bán trực tiếp cho người tiêu dùng (khi đó tình trạng Halal phải nêu trong hồ sơ kỹ thuật/hợp đồng). Sản phẩm thuộc danh mục rủi ro cao bắt buộc phải truy xuất nguồn gốc theo lộ trình cơ quan nhà nước ban hành.
Tổ chức thử nghiệm phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động với phạm vi bao gồm chỉ tiêu Halal, đảm bảo khách quan, độc lập, kiểm soát nhiễm chéo mẫu thử. Chứng nhận Halal về nguyên tắc là tự nguyện, chỉ bắt buộc khi văn bản chuyên ngành quy định cụ thể.
Tổ chức chứng nhận Halal trong nước phải: được thành lập hợp pháp; đáp ứng TCVN 13888 (hoặc tương đương quốc tế); có tối thiểu 2 chuyên gia đánh giá chính thức là người Hồi giáo, tốt nghiệp đại học trở lên, có chứng chỉ đánh giá hệ thống quản lý/sản phẩm và chứng chỉ kiến thức Halal, kinh nghiệm tối thiểu 20 ngày công đánh giá. Hồ sơ đăng ký (cấp mới, bổ sung/sửa đổi, cấp lại) nộp tại Bộ Khoa học và Công nghệ qua Bộ phận Một cửa, bưu chính hoặc Cổng dịch vụ công Quốc gia. Giấy chứng nhận bị thu hồi khi vi phạm nghiêm trọng (giả mạo hồ sơ, cấp khống kết quả, vi phạm hành chính lặp lại...); tổ chức bị thu hồi chỉ được cấp lại sau tối thiểu 6 tháng và khi đã khắc phục vi phạm.
Kết quả chứng nhận, Dấu chứng nhận Halal của tổ chức nước ngoài được thừa nhận nếu thuộc thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) mà Việt Nam là thành viên, hoặc được Bộ Khoa học và Công nghệ thừa nhận đơn phương (qua công nhận IAF/APAC theo ISO/IEC 17065, hoặc theo yêu cầu quản lý chuyên ngành).
Nội dung kiểm tra doanh nghiệp gồm: tuân thủ điều kiện Halal trong sản xuất, công bố tiêu chuẩn, ghi nhãn, sử dụng Dấu chứng nhận, hồ sơ truy xuất nguồn gốc. Với tổ chức chứng nhận: duy trì điều kiện hoạt động, phạm vi đăng ký, quy trình đánh giá, hồ sơ chứng nhận. Trình tự kiểm tra thực hiện theo Nghị định 217/2025/NĐ-CP về kiểm tra chuyên ngành; vi phạm bị xử lý hành chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định chuyên ngành liên quan.
Nhà nước hỗ trợ: đàm phán, ký kết MRA quốc tế (Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì); xúc tiến thương mại tại hội chợ, triển lãm Halal quốc tế (kinh phí từ Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại); quảng bá du lịch thân thiện với người Hồi giáo (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); hỗ trợ một lần chi phí thử nghiệm, chứng nhận cho doanh nghiệp xuất khẩu chủ lực; xây dựng Cơ sở dữ liệu Halal quốc gia tích hợp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; và chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa theo pháp luật hỗ trợ DNNVV.
Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối: xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, cấp/thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chứng nhận, vận hành Cơ sở dữ liệu Halal quốc gia, đầu mối hợp tác quốc tế và kiểm tra chuyên ngành. Bộ Ngoại giao hỗ trợ đàm phán điều ước quốc tế và quảng bá tại nước ngoài. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương và các bộ, UBND cấp tỉnh phối hợp quản lý theo lĩnh vực phân công.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 2026. Hồ sơ đăng ký nộp tại UBND cấp tỉnh trước ngày hiệu lực nhưng chưa giải quyết xong sẽ được chuyển cho Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục xử lý.