Một doanh nghiệp hỏi cơ quan thuế cách xác định tình trạng cư trú thuế thu nhập cá nhân (TNCN) của một người lao động nước ngoài được công ty mẹ điều chuyển sang làm việc tại Việt Nam từ ngày 15/09/2025. Người này đã có giấy phép lao động và thẻ tạm trú. Trước đó, người này từng nhập cảnh ngắn hạn (14 đến 18/03/2024) để dự đám cưới người thân, không làm việc và không có thu nhập trong lần đó. Doanh nghiệp muốn biết cá nhân có phải là người cư trú thuế năm 2025 hay không, có được ủy quyền cho công ty quyết toán thuế thay hay không, và chuyến đi ngắn năm 2024 có ảnh hưởng gì không. Căn cứ Thông tư 111/2013/TT-BTC và Nghị định 126/2020/NĐ-CP, cơ quan thuế trả lời rằng một cá nhân được coi là cư trú tại Việt Nam nếu có mặt từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch, hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt. Doanh nghiệp phải căn cứ vào dấu xuất nhập cảnh thực tế trên hộ chiếu, đối chiếu với hợp đồng lao động hoặc văn bản điều chuyển, để tự xác định tình trạng cư trú của người lao động. Đối với trường hợp nêu trong câu hỏi, cơ quan thuế không đưa ra kết luận cụ thể về tình trạng cư trú của cá nhân này. Thay vào đó, cơ quan thuế yêu cầu doanh nghiệp tự căn cứ vào dấu xuất nhập cảnh thực tế trên hộ chiếu của người lao động, đối chiếu với hợp đồng lao động hoặc văn bản điều chuyển, để xác định tình trạng cư trú.
Doanh nghiệp hỏi Bộ Tài chính/Cơ quan Thuế về việc xác định tình trạng cư trú thuế và nghĩa vụ quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với một người lao động nước ngoài lần đầu làm việc tại Việt Nam.
Người lao động được công ty mẹ điều chuyển sang Việt Nam làm việc từ ngày 15/09/2025, đã có giấy phép lao động, thẻ tạm trú và hồ sơ lao động đầy đủ. Trước đó, người này từng nhập cảnh Việt Nam từ 14/03/2024 đến 18/03/2024 để dự đám cưới người thân, không làm việc và không phát sinh thu nhập.
Ba câu hỏi được đặt ra:
Căn cứ Thông tư 111/2013/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 119/2014/TT-BTC) và Nghị định 126/2020/NĐ-CP, cơ quan thuế (Cục Thuế tỉnh Tây Ninh) hướng dẫn như sau.
Điều kiện cá nhân cư trú: Một cá nhân được coi là cư trú tại Việt Nam nếu có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch, hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Ngày đến và ngày đi được xác định căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu.
Trách nhiệm xác định: Công ty chi trả thu nhập phải căn cứ vào thời gian làm việc tại Việt Nam ghi trên hợp đồng lao động hoặc văn bản điều chuyển, đối chiếu với dấu xuất nhập cảnh thực tế trên hộ chiếu của người lao động, để xác định tình trạng cư trú làm cơ sở xác định nghĩa vụ thuế TNCN.
Thu nhập chịu thuế: Nếu được xác định là cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế TNCN là toàn bộ thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập.
Nghĩa vụ quyết toán: Theo điểm d.3 khoản 6 Điều 8 Nghị định 126/2020/NĐ-CP, trường hợp cá nhân có mặt tại Việt Nam trong năm dương lịch đầu tiên dưới 183 ngày, nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên, thì cá nhân đó phải trực tiếp kê khai và quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế, không thuộc diện ủy quyền cho công ty quyết toán thay.
Cơ quan thuế lưu ý doanh nghiệp căn cứ tình hình thực tế hoạt động và đối chiếu quy định pháp luật liên quan để thực hiện đúng.
Văn bản này không đưa ra quy định mới mà áp dụng các quy tắc cư trú thuế hiện hành (Thông tư 111/2013/TT-BTC, Nghị định 126/2020/NĐ-CP) cho một tình huống thường gặp: người lao động nước ngoài mới nhập cảnh làm việc giữa năm. Doanh nghiệp có lao động nước ngoài nên lưu trữ đầy đủ dấu xuất nhập cảnh và hợp đồng lao động để xác định chính xác tình trạng cư trú, đồng thời lưu ý rằng trường hợp cư trú theo phép thử 12 tháng liên tục thường yêu cầu cá nhân tự quyết toán trực tiếp với cơ quan thuế thay vì ủy quyền qua công ty.