Chi phí khám, chữa bệnh hiểm nghèo và thuế TNCN: hỗ trợ từ người sử dụng lao động, giảm thuế theo Điều 40 và quyết toán
Thuế Thành phố Hà Nội trả lời câu hỏi về chi phí khám, chữa bệnh khoảng 100 triệu đồng cho vợ, không có bảo hiểm y tế, theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026. Khoản người sử dụng lao động hỗ trợ khám, chữa bệnh hiểm nghèo cho người lao động và thân nhân (Điều 8 Khoản 4 Điểm b) không tính vào thu nhập chịu thuế, tối đa bằng viện phí sau khi trừ tiền bảo hiểm chi trả. Chi phí y tế thuộc trường hợp giảm thuế theo Điều 40 thì không tính vào khoản giảm trừ Điều 49. Người nộp thuế yêu cầu giảm thuế hoặc giảm trừ trước khi tính thuế phải tự quyết toán, không ủy quyền cho cơ quan chi trả. Cơ quan thuế không kết luận cụ thể cho trường hợp này và đề nghị đối chiếu hồ sơ thực tế.
Bài giải thích của RegHub - New MarketerCập nhật lần cuối:
Dựa trên:Nghị định số 253/2026/NĐ-CP; mã câu hỏi 151026-28 - Bộ Tài chínhHiệu lực:
Bài giải thích này do AI tạo và được kiểm tra tự động bằng AI, chưa qua chuyên gia thẩm định. Đây không phải tư vấn pháp lý, thuế hay kế toán và có thể có sai sót. Vui lòng đối chiếu với văn bản chính thức trước khi áp dụng.
Chi phí khám, chữa bệnh hiểm nghèo và thuế TNCN
Câu hỏi
Một người hỏi về gia đình gồm hai vợ chồng, chưa có người phụ thuộc. Người vợ phải phẫu thuật tử cung và buồng trứng, không có bảo hiểm y tế, tổng chi phí khoảng 100 triệu đồng, thanh toán nhiều đợt. Người hỏi muốn biết gia đình có được giảm trừ, hoàn thuế TNCN hoặc hỗ trợ nào không, cùng điều kiện, thủ tục và hồ sơ.
Trả lời của cơ quan thuế
Thuế Thành phố Hà Nội căn cứ Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ và lưu ý như sau:
1. Hỗ trợ từ người sử dụng lao động
Khoản người sử dụng lao động hỗ trợ khám, chữa bệnh hiểm nghèo cho người lao động và thân nhân (Điều 8 Khoản 4 Điểm b) là thu nhập không mang tính chất tiền lương, tiền công, không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Thân nhân gồm: con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng); cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi.
Mức không tính thuế là số tiền thực tế người sử dụng lao động hỗ trợ theo hóa đơn, chứng từ, tối đa không quá số tiền viện phí của người lao động và thân nhân sau khi trừ số tiền tổ chức bảo hiểm chi trả (nếu có). Việc xác định bệnh hiểm nghèo theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
2. Giảm thuế theo Điều 40
Người nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế được xét giảm thuế tương ứng với mức thiệt hại, nhưng không vượt quá số thuế TNCN phải nộp.
- Xét giảm thuế theo năm.
- Mức thiệt hại là tổng chi phí thực tế để khắc phục thiệt hại, để trả chi phí khám, chữa bệnh, trừ các khoản bồi thường, bảo hiểm nhận được (nếu có).
- Thuế phải nộp trong năm lớn hơn mức thiệt hại: số thuế giảm bằng mức thiệt hại. Nhỏ hơn: số thuế giảm bằng số thuế phải nộp.
- Hồ sơ, thủ tục thực hiện theo pháp luật về quản lý thuế.
3. Giảm trừ theo Điều 49
Điều 49 cho phép giảm trừ chi phí khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả, tổng không quá 23 triệu đồng/năm. Điều kiện: có hóa đơn, chứng từ hợp pháp và bảng kê chi phí khám, chữa bệnh; hóa đơn thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc; không được chi trả từ nguồn khác (tài trợ, hỗ trợ, ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm...). Chi phí y tế thuộc trường hợp giảm thuế Điều 40 thì không tính vào khoản giảm trừ này.
4. Quyết toán thuế
Theo Điều 51 Khoản 3, người nộp thuế đề nghị giảm thuế theo Điều 40 hoặc có khoản giảm trừ Điều 49 và yêu cầu thực hiện trước khi tính thuế thì phải tự quyết toán thuế, không được ủy quyền cho cơ quan chi trả.
5. Kết luận và lưu ý
- Cơ quan thuế không nêu kết luận cụ thể về việc gia đình này được giảm thuế hay hoàn thuế, và không nói bệnh của người vợ có là bệnh hiểm nghèo hay không.
- Người nộp thuế cần đối chiếu quy định với hồ sơ thực tế để xác định điều kiện áp dụng.
Căn cứ pháp lý: Nghị định số 253/2026/NĐ-CP (Điều 8, Điều 40, Điều 49, Điều 51)