Nghị định
Thấp
Đăng ký doanh nghiệp & Đầu tư nước ngoài

Văn bản hợp nhất số 117/2026/VBHN-NĐ-NHNN hợp nhất Nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng

Văn bản hợp nhất này tổng hợp Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, được sửa đổi bởi Nghị định 232/2025/NĐ-CP (hiệu lực 10/10/2025) và Nghị định 390/2026/NĐ-CP (hiệu lực 16/10/2026). Ngân hàng Nhà nước thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý hoạt động kinh doanh vàng. Điểm quan trọng với doanh nghiệp nhỏ: sản xuất, gia công, mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ không phải ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ không còn là điều kiện hoạt động, hồ sơ chưa giải quyết bị chấm dứt xử lý. Doanh nghiệp vẫn phải tuân thủ pháp luật về chất lượng, đo lường, nhãn hàng hóa, niêm yết giá, hóa đơn chứng từ, thuế, PCCC, môi trường, bảo vệ người tiêu dùng, phòng chống rửa tiền. Thanh toán mua bán vàng từ 05 triệu đồng/ngày/khách hàng trở lên phải dùng phương tiện không dùng tiền mặt. Sản xuất và mua bán vàng miếng là hoạt động có điều kiện, cần giấy phép của Ngân hàng Nhà nước. Doanh nghiệp mua bán vàng miếng cần vốn điều lệ từ 100 tỷ đồng, kinh nghiệm từ 2 năm, thuế đã nộp từ hoạt động kinh doanh vàng từ 500 triệu đồng/năm trong 2 năm liên tiếp gần nhất, mạng lưới tại từ 3 tỉnh, thành phố. Sản xuất vàng miếng cần vốn từ 1.000 tỷ đồng (ngân hàng thương mại: 50.000 tỷ đồng). Sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán là hành vi vi phạm.

Bài giải thích của RegHub - New MarketerCập nhật lần cuối:

Dựa trên:117/2026/VBHN-NĐ-NHNN - Công báo Chính phủBan hành: Hiệu lực:

Bài giải thích này do AI tạo và được kiểm tra tự động bằng AI, chưa qua chuyên gia thẩm định. Đây không phải tư vấn pháp lý, thuế hay kế toán và có thể có sai sót. Vui lòng đối chiếu với văn bản chính thức trước khi áp dụng.

Cơ sở pháp lý

Văn bản hợp nhất số 117/2026/VBHN-NĐ-NHNN (ngày 28/10/2026) hợp nhất Nghị định 24/2012/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 232/2025/NĐ-CP (hiệu lực 10/10/2025) và Nghị định 390/2026/NĐ-CP (hiệu lực 16/10/2026).

Phạm vi và đối tượng

  • Điều chỉnh: sản xuất, gia công, mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ; sản xuất, mua bán vàng miếng; xuất nhập khẩu vàng; kinh doanh vàng trên tài khoản và phái sinh vàng.
  • Không áp dụng cho khai thác và tinh luyện vàng của doanh nghiệp khai thác vàng.
  • Áp dụng cho tổ chức, cá nhân kinh doanh vàng tại Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.

Nguyên tắc quản lý

  • Ngân hàng Nhà nước thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý.
  • Sản xuất, mua bán vàng miếng là hoạt động kinh doanh có điều kiện, cần Giấy phép của Ngân hàng Nhà nước.
  • Sản xuất, gia công, mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ không phải ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, nhưng phải tuân thủ pháp luật về chất lượng, tiêu chuẩn, đo lường, nhãn hàng hóa, niêm yết giá, hóa đơn chứng từ, thuế, PCCC, môi trường, bảo vệ người tiêu dùng, phòng chống rửa tiền.
  • Phái sinh vàng của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện theo Điều 112 Luật Các tổ chức tín dụng.
  • Các hoạt động kinh doanh vàng khác (trừ xuất nhập khẩu vàng, mua bán vàng nguyên liệu trong nước của doanh nghiệp vàng trang sức và các hoạt động tại khoản 6, 7, 8 Điều 4) thuộc danh mục hạn chế kinh doanh, cần Thủ tướng cho phép và Ngân hàng Nhà nước cấp phép.
  • Thanh toán mua bán vàng từ 05 triệu đồng/ngày/khách hàng trở lên phải bằng phương tiện không dùng tiền mặt.

Vàng trang sức, mỹ nghệ

Các Điều 5-9 đã bị bãi bỏ từ 16/10/2026. Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ do Ngân hàng Nhà nước cấp trước ngày đó không còn là điều kiện hoạt động; hồ sơ chưa giải quyết bị chấm dứt xử lý, phí, lệ phí đã nộp xử lý theo pháp luật về phí, lệ phí.

Vàng miếng

  • Chỉ được mua bán vàng miếng tại tổ chức tín dụng và doanh nghiệp có Giấy phép kinh doanh mua bán vàng miếng.
  • Doanh nghiệp: vốn điều lệ từ 100 tỷ đồng; kinh nghiệm từ 2 năm; thuế đã nộp từ hoạt động kinh doanh vàng từ 500 triệu đồng/năm trong 2 năm liên tiếp gần nhất (có xác nhận của cơ quan thuế); mạng lưới tại từ 3 tỉnh, thành phố.
  • Tổ chức tín dụng: vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng; đăng ký hoạt động kinh doanh vàng; chi nhánh tại từ 5 tỉnh, thành phố.
  • Giấy phép sản xuất vàng miếng: doanh nghiệp vốn từ 1.000 tỷ đồng; ngân hàng thương mại vốn từ 50.000 tỷ đồng; đều phải có giấy phép mua bán vàng miếng, không bị xử phạt vi phạm hành chính về kinh doanh vàng (hoặc đã khắc phục xong hậu quả) và có quy định nội bộ về sản xuất.
  • Nghĩa vụ của bên kinh doanh mua bán: niêm yết giá và kết nối thông tin với Ngân hàng Nhà nước; không kinh doanh qua đại lý ủy nhiệm; bảo đảm an toàn; quy định nội bộ về giao dịch; lưu trữ dữ liệu giao dịch (căn cước cá nhân, mã số thuế doanh nghiệp, khối lượng, giá trị). Bên sản xuất phải bảo hành sản phẩm.

Xuất khẩu, nhập khẩu vàng

  • Vàng trang sức, mỹ nghệ: thực hiện theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp.
  • Doanh nghiệp, ngân hàng thương mại đủ điều kiện tại Điều 11a: Ngân hàng Nhà nước cấp hạn mức hàng năm và giấy phép từng lần để xuất nhập khẩu vàng miếng, nhập khẩu vàng nguyên liệu.
  • Doanh nghiệp gia công cho nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài khai thác vàng có thể được cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu theo điều kiện riêng.
  • Vàng dạng bột, dung dịch, vảy hàn, muối vàng, dây, ống, bán thành phẩm và vàng làm linh kiện điện tử, thiết bị y tế: thực hiện theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, pháp luật hải quan và pháp luật chuyên ngành.
  • Doanh nghiệp, ngân hàng được cấp giấy phép theo khoản 1 Điều 14 chỉ được nhập khẩu vàng miếng, vàng nguyên liệu hàm lượng từ 99,5% trở lên và phải có hệ thống thông tin kết nối với Ngân hàng Nhà nước.
  • Giấy phép và hạn mức đã cấp trước 16/10/2026 tiếp tục thực hiện theo nội dung, thời hạn ghi trong giấy phép, trừ khi bị điều chỉnh, thu hồi.

Hành vi vi phạm

  • Sản xuất, mua bán vàng miếng không có giấy phép; xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu, vàng miếng không đúng quy định.
  • Mang vàng xuất nhập cảnh vượt mức không có giấy phép.
  • Sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán.
  • Kinh doanh vàng khác khi chưa được Thủ tướng cho phép và Ngân hàng Nhà nước cấp phép.

Chế độ báo cáo

Doanh nghiệp, ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh vàng phải báo cáo tình hình sản xuất, mua bán vàng miếng, xuất nhập khẩu vàng, mua bán, sử dụng, tồn kho vàng nguyên liệu nhập khẩu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền.