Một người dân tại Hưng Yên hỏi Bộ Tài chính về việc tính tiền sử dụng đất khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) đối với phần diện tích đất lấn, chiếm theo Điều 139 Luật Đất đai năm 2024. Câu hỏi cụ thể là: nếu trước khi đề nghị cấp GCN cho phần đất vi phạm này, người sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất (hoặc đã nhận chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao đất có thu tiền) ở một thời điểm khác, thì phần diện tích đó có được trừ ra khi tính tiền sử dụng đất phải nộp cho phần đất lấn, chiếm hay không. Trả lời, cơ quan Thuế (Chi cục Thuế Cơ sở 9, tỉnh Hưng Yên) trích dẫn điểm a khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai 2024 và điểm a khoản 3 Điều 11 Nghị định 103/2024/NĐ-CP: đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ 15/10/1993 đến trước 1/7/2004, nay được cấp GCN vào mục đích đất ở, tiền sử dụng đất đối với phần diện tích trong hạn mức đất ở được tính bằng diện tích đất được cấp GCN trong hạn mức giao đất ở, nhân với giá đất ở theo bảng giá đất, nhân với 30%. Tuy nhiên, cơ quan Thuế không trả lời trực tiếp câu hỏi về việc có được giảm trừ diện tích đã công nhận hoặc đã giao trước đó hay không. Văn bản nêu rõ: cơ quan Thuế chỉ tiếp nhận Phiếu chuyển thông tin xác định nghĩa vụ tài chính do cơ quan quản lý đất đai chuyển sang qua hình thức điện tử liên thông, làm căn cứ ra thông báo nộp tiền; còn việc xác định vị trí, hạn mức và tính hợp pháp của thửa đất - bao gồm việc có trừ diện tích đã công nhận/giao trước đó hay không - không thuộc thẩm quyền cơ quan Thuế. Người hỏi được đề nghị liên hệ trực tiếp cơ quan quản lý đất đai để được hướng dẫn cụ thể. Đối với SME hoặc cá nhân sở hữu đất có nguồn gốc lấn, chiếm hoặc đang làm thủ tục cấp GCN cho phần diện tích vi phạm trước đây, cần lưu ý: số tiền sử dụng đất cuối cùng phụ thuộc vào số liệu do cơ quan đất đai xác định và chuyển sang, không phải do cơ quan Thuế tự tính toán độc lập; nên làm việc trực tiếp với cơ quan quản lý đất đai để làm rõ việc giảm trừ diện tích trước khi nhận thông báo nộp tiền từ cơ quan Thuế.
Ông Nguyễn Minh Thanh (Hưng Yên) hỏi Bộ Tài chính về quy định tính tiền sử dụng đất tại điểm a khoản 3 Điều 11 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP đối với diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) nằm trong hạn mức giao đất tại địa phương.
Theo phản ánh của ông, trên thực tế có nhiều trường hợp người sử dụng đất đủ điều kiện được xem xét cấp GCN đối với phần diện tích đất lấn, chiếm theo điểm a khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024. Tuy nhiên, trước khi đề nghị cấp GCN cho phần đất vi phạm này, người sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất (hoặc đã nhận chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất) ở một thời điểm khác.
Câu hỏi đặt ra: trong trường hợp này, phần diện tích đã được công nhận, đã được giao đất, hoặc đã nhận chuyển quyền nói trên có được giảm trừ khi xác định số tiền sử dụng đất phải nộp cho phần đất lấn, chiếm hay không?
Theo nội dung câu hỏi, việc tính tiền sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 11 Nghị định 103/2024/NĐ-CP và điểm a khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024.
Điều 139 Luật Đất đai năm 2024 quy định việc giải quyết đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01/7/2024. Theo khoản 3, đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do lấn đất, chiếm đất (không thuộc các trường hợp tại khoản 1, khoản 2) hoặc sử dụng không đúng mục đích đất đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng: nếu người sử dụng đất ổn định, phù hợp quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung/phân khu/xây dựng/nông thôn thì được xem xét cấp GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Điều 11 Nghị định 103/2024/NĐ-CP hướng dẫn tính tiền sử dụng đất khi cấp GCN cho các trường hợp có vi phạm pháp luật đất đai trước 01/7/2014 theo khoản 1, 2, 3 Điều 139 Luật Đất đai. Theo khoản 3, đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ 15/10/1993 đến trước 01/7/2004, nay được cấp GCN vào mục đích đất ở theo điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 139: đối với phần diện tích được cấp GCN trong hạn mức đất ở (theo khoản 2 Điều 195, khoản 2 Điều 196 Luật Đất đai), tiền sử dụng đất được tính theo công thức:
Tiền sử dụng đất = Diện tích đất được cấp GCN trong hạn mức giao đất ở × Giá đất ở quy định tại bảng giá đất × 30%
Cơ quan Thuế (Chi cục Thuế Cơ sở 9 tỉnh Hưng Yên) nêu rõ quy trình: cơ quan Thuế tiếp nhận hồ sơ và Phiếu chuyển thông tin xác định nghĩa vụ tài chính bằng phương thức điện tử liên thông từ cơ quan quản lý đất đai, làm căn cứ xác định nghĩa vụ tài chính, ban hành thông báo nộp tiền gửi người nộp thuế, rồi truyền trả thông báo sang cơ quan quản lý đất đai theo quy chế luân chuyển thông tin.
Văn bản khẳng định: việc xác định vị trí, hạn mức và tính hợp pháp của thửa đất - trong đó bao hàm việc có giảm trừ diện tích đã được công nhận, đã giao, hoặc đã nhận chuyển quyền trước đó hay không - không thuộc thẩm quyền của cơ quan Thuế.
Do đó, câu hỏi cụ thể của ông Nguyễn Minh Thanh không được cơ quan Thuế trả lời trực tiếp. Cơ quan này đề nghị ông liên hệ với cơ quan quản lý đất đai (Văn phòng đăng ký đất đai / Phòng Tài nguyên và Môi trường địa phương) để được hướng dẫn cụ thể về việc xác định diện tích, vì đây là nội dung thuộc thẩm quyền chuyên môn của cơ quan này, không phải cơ quan Thuế.