Một công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ công nghệ thông tin đã hỏi Bộ Tài chính về cách xử lý thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với khoản hoa hồng, thù lao trả cho các cộng tác viên hỗ trợ bán hàng. Các cộng tác viên này chỉ tìm kiếm, giới thiệu khách hàng và hỗ trợ đàm phán, không đứng tên hợp đồng, không xuất hóa đơn, không thu tiền và không tự kinh doanh độc lập; toàn bộ hợp đồng, hóa đơn và doanh thu đều do công ty thực hiện. Cục Thuế Thành phố Hà Nội trả lời rằng khoản hoa hồng, thù lao trả cho cộng tác viên không phải là cá nhân kinh doanh được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công theo điểm c khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC. Đây là các khoản tiền hoa hồng đại lý bán hàng, tiền hoa hồng môi giới hoặc thù lao dịch vụ khác thuộc diện chịu thuế TNCN. Do cộng tác viên không ký hợp đồng lao động với công ty, theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, công ty phải khấu trừ thuế TNCN ở mức 10% trên thu nhập trước khi chi trả, áp dụng cho mỗi lần chi trả từ 2.000.000 đồng trở lên. Đây là quy định quan trọng mà các doanh nghiệp sử dụng mô hình cộng tác viên (CTV) cần lưu ý để tránh sai sót khi quyết toán thuế và tránh bị truy thu, phạt chậm nộp.
Một công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ công nghệ thông tin cho khách hàng doanh nghiệp có ký Hợp đồng cộng tác viên với một số cá nhân để hỗ trợ phát triển khách hàng và bán hàng. Công việc của cộng tác viên bao gồm:
Các cộng tác viên không sở hữu sản phẩm để bán, không đứng tên ký hợp đồng với khách hàng, không xuất hóa đơn, không thu tiền từ khách hàng và không nhân danh cá nhân cung cấp phần mềm hoặc dịch vụ. Toàn bộ hợp đồng, hóa đơn và doanh thu đều thuộc về công ty. Công ty chi trả hoa hồng hoặc thù lao cho cộng tác viên theo tỷ lệ doanh số.
Công ty hỏi ba vấn đề:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính, thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công bao gồm:
"Tiền thù lao nhận được dưới các hình thức như: tiền hoa hồng đại lý bán hàng hóa, tiền hoa hồng môi giới; tiền tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, kỹ thuật; tiền tham gia các dự án, đề án; tiền nhuận bút theo quy định của pháp luật về chế độ nhuận bút; tiền tham gia các hoạt động giảng dạy; tiền tham gia biểu diễn văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao; tiền dịch vụ quảng cáo; tiền dịch vụ khác, thù lao khác."
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC về khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác:
"Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân."
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp công ty chi trả tiền hoa hồng, tiền thù lao cho cộng tác viên không phải là cá nhân kinh doanh, thì:
Doanh nghiệp gặp vướng mắc có thể tham khảo văn bản hướng dẫn của Cục Thuế Thành phố Hà Nội tại website http://hanoi.gdt.gov.vn hoặc liên hệ cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được hỗ trợ.