Bộ Công Thương vừa công bố văn bản hợp nhất số 71/2026/VBHN-NĐ-BCT, gộp Nghị định 32/2024/NĐ-CP về quản lý, phát triển cụm công nghiệp với các sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 303/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ 15/9/2026). Văn bản quy định toàn bộ vòng đời của một cụm công nghiệp: định nghĩa (diện tích 5-75 ha, không có dân cư sinh sống), các loại hình được ưu tiên (cụm công nghiệp làng nghề, chuyên ngành, hỗ trợ, công nghệ cao, sinh thái), điều kiện và hồ sơ thành lập, mở rộng, cũng như chính sách ưu đãi đầu tư. Với doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã hoặc nhà đầu tư nước ngoài đang tìm mặt bằng sản xuất, văn bản này quan trọng vì nó quy định điều kiện để một địa phương được lập cụm công nghiệp mới (tỷ lệ lấp đầy các cụm hiện có phải trên 50% hoặc quỹ đất công nghiệp chưa cho thuê không quá 50 ha), cũng như quyền lợi của tổ chức, cá nhân thuê đất sản xuất kinh doanh trong cụm - bao gồm việc được hưởng ưu đãi đầu tư theo pháp luật về đất đai, thuế và tín dụng vì cụm công nghiệp được xác định là địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Điểm đáng chú ý của lần sửa đổi 2026 là cập nhật toàn bộ thuật ngữ hành chính từ cấp huyện sang cấp xã (phản ánh việc bỏ cấp huyện trong tổ chức chính quyền địa phương), đổi tên «phương án phát triển» thành «phương hướng phát triển» cụm công nghiệp, bổ sung định nghĩa mới cho cụm công nghiệp hỗ trợ và công nghệ cao, đồng thời rút gọn thủ tục thẩm định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp về cho Ủy ban nhân dân cấp xã và Sở Công Thương. Doanh nghiệp đang có kế hoạch thuê đất hoặc đầu tư hạ tầng trong cụm công nghiệp nên rà soát lại quy trình nộp hồ sơ theo đầu mối cấp xã mới kể từ 15/9/2026.
Văn bản hợp nhất số 71/2026/VBHN-NĐ-BCT do Bộ Công Thương phát hành ngày 5/8/2026, hợp nhất hai văn bản pháp luật: Nghị định 32/2024/NĐ-CP ngày 15/3/2024 (hiệu lực từ 1/5/2024) và Nghị định 303/2026/NĐ-CP ngày 1/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 32 (hiệu lực từ 15/9/2026). Đây là văn bản hợp nhất mang tính tra cứu, không phải văn bản quy phạm pháp luật độc lập, nhưng phản ánh đầy đủ nội dung đang có hiệu lực và sắp có hiệu lực về quản lý, phát triển cụm công nghiệp tại Việt Nam.
Nghị định quy định về: phương hướng phát triển cụm công nghiệp; thành lập, mở rộng cụm công nghiệp; đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp; chính sách ưu đãi, hỗ trợ; và quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp. Đối tượng áp dụng gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp; tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trong cụm; và các cơ quan quản lý liên quan.
Cụm công nghiệp là nơi sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, quy mô diện tích từ 5 ha đến không quá 75 ha. Nghị định 303/2026 bổ sung các loại hình mới: cụm công nghiệp hỗ trợ (tối thiểu 60% diện tích đất công nghiệp cho dự án công nghiệp hỗ trợ) và cụm công nghiệp công nghệ cao (tối thiểu 30% diện tích cho dự án nghiên cứu, sản xuất công nghệ cao), bên cạnh các loại hình đã có: cụm công nghiệp làng nghề, chuyên ngành, sinh thái.
Nhà nước khuyến khích các ngành công nghiệp chế biến, cơ khí, công nghiệp hỗ trợ, dệt may - da giày, công nghệ thông tin, năng lượng tái tạo, công nghệ số và vật liệu mới đầu tư vào cụm công nghiệp. Đối tượng ưu tiên gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ sản xuất làng nghề, cũng như doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cụ thể ngành, nghề và loại hình cụm công nghiệp phù hợp với địa phương.
Phương hướng phát triển cụm công nghiệp (trước đây gọi là «phương án phát triển», được đổi tên theo Nghị định 303/2026) là một nội dung bắt buộc phải tích hợp vào quy hoạch tỉnh. Sở Công Thương chủ trì xây dựng danh mục cụm công nghiệp dự kiến (tên gọi, địa điểm đến cấp xã, quy mô, ngành nghề), trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để tích hợp vào quy hoạch tỉnh theo pháp luật quy hoạch.
Để thành lập cụm công nghiệp mới, địa phương phải: có cụm công nghiệp trong danh mục quy hoạch tỉnh đã duyệt; có doanh nghiệp, hợp tác xã đủ năng lực làm chủ đầu tư hạ tầng; và nếu cấp xã đã có cụm công nghiệp thì tỷ lệ lấp đầy trung bình phải trên 50% hoặc quỹ đất công nghiệp chưa cho thuê không vượt 50 ha (điều kiện này không áp dụng cho cụm công nghiệp công nghệ cao, sinh thái). Để mở rộng, cụm phải đạt tỷ lệ lấp đầy tối thiểu 50%, tổng diện tích sau mở rộng không vượt 75 ha, và đã hoàn thành hạ tầng kỹ thuật thiết yếu.
Doanh nghiệp nộp hồ sơ (Báo cáo đầu tư, bản đồ vị trí, tài liệu chứng minh năng lực tài chính) tới Ủy ban nhân dân cấp xã. Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo công khai trong 2 ngày làm việc, nhận hồ sơ trong 5 ngày, sau đó trình Sở Công Thương thẩm định trong 20 ngày làm việc. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định trong 5 ngày làm việc kể từ khi nhận báo cáo thẩm định. Đây là điểm sửa đổi quan trọng của Nghị định 303/2026: toàn bộ đầu mối trước đây thuộc cấp huyện nay chuyển về cấp xã, phản ánh việc bỏ cấp chính quyền địa phương trung gian.
Chủ đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp và tổ chức, cá nhân thuê đất sản xuất kinh doanh trong cụm đều được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo Nghị định này và pháp luật liên quan, đồng thời có nghĩa vụ sử dụng đất, triển khai dự án đúng nội dung đã cam kết.
Cụm công nghiệp được xác định là địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp là ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư. Ưu đãi cụ thể (đất đai, thuế, tín dụng) áp dụng theo pháp luật chuyên ngành tương ứng; nếu có nhiều mức ưu đãi khác nhau thì áp dụng mức cao nhất. Địa phương được dùng ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp theo Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công.
Nghị định 32/2024/NĐ-CP có hiệu lực từ 1/5/2024. Các sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 303/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 15/9/2026. Doanh nghiệp, hợp tác xã đang có kế hoạch thành lập hoặc mở rộng cụm công nghiệp nên chuẩn bị hồ sơ theo quy trình cấp xã mới trước thời điểm này.