Kho kiến thức
Bài giải thích của RegHub về văn bản chính thức về thuế, kế toán và hóa đơn, viết bằng ngôn ngữ dễ hiểu.
Có phải nộp bổ sung tiền sử dụng đất khi điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng dự án bất động sản?
Must a Real Estate Business Pay Additional Land Use Fees After Adjusting a Project's Detailed Construction Plan?
Một doanh nghiệp kinh doanh bất động sản từ năm 2003 đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất trước ngày 01/7/2014, tính theo bảng giá đất của UBND cấp tỉnh chứ chưa căn cứ theo các chỉ tiêu quy hoạch chi tiết (hệ số sử dụng đất, mật độ xây dựng, chiều cao công trình). Đến năm 2020, doanh nghiệp điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng của dự án và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, nhưng tại thời điểm đó không bị yêu cầu nộp bổ sung tiền sử dụng đất. Nay doanh nghiệp muốn chuyển nhượng một phần dự án là khu chung cư nên hỏi Bộ Tài chính: liệu trường hợp này có được áp dụng điểm b khoản 3 Điều 2 Thông tư số 76/2014/TT-BTC (không phải nộp bổ sung tiền sử dụng đất khi thay đổi quy hoạch chi tiết) hay không. Bộ Tài chính không trả lời trực tiếp có hay không mà chỉ liệt kê các căn cứ pháp lý liên quan qua từng thời kỳ: khoản 5 Điều 14 Nghị định 45/2014/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 123/2017/NĐ-CP), khoản 3 Điều 10 Thông tư 76/2014/TT-BTC (bổ sung tại Thông tư 10/2018/TT-BTC), điều khoản chuyển tiếp tại Điều 50 Nghị định 103/2024/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 291/2025/NĐ-CP), và quy định về trách nhiệm xác định nghĩa vụ tài chính đất đai của UBND cấp tỉnh tại Điều 44, khoản 6 Điều 48 Nghị định 103/2024/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 50/2026/NĐ-CP). Bộ Tài chính đề nghị doanh nghiệp căn cứ hồ sơ dự án cụ thể, làm việc trực tiếp với cơ quan chức năng của địa phương để được xem xét, xác định đúng quy định trước khi chuyển nhượng. Đây là lưu ý quan trọng cho các chủ đầu tư bất động sản: việc miễn trừ nghĩa vụ nộp bổ sung tiền sử dụng đất khi điều chỉnh quy hoạch không mặc nhiên áp dụng, mà phải được cơ quan địa phương xác nhận theo hồ sơ từng dự án, đặc biệt trước khi thực hiện chuyển nhượng dự án hoặc một phần dự án.
Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)
Draft (Amended) Land Law
Cổng thông tin Dự thảo Online của Quốc hội đã đăng tải mục dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), do Chính phủ trình. Theo thông tin được công bố, dự thảo dự kiến được Quốc hội khóa XVI xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ 2. Nội dung thu thập được tại nguồn này chỉ gồm tiêu đề và các thông tin thủ tục (cơ quan trình, kỳ họp dự kiến thông qua), chưa có toàn văn hoặc các điều khoản cụ thể của dự thảo. Do đó, chưa thể đánh giá chi tiết những thay đổi cụ thể sẽ ảnh hưởng thế nào đến quyền sử dụng đất, chi phí thuê đất, hay nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp và nhà đầu tư. Khi Luật Đất đai (sửa đổi) được Quốc hội thông qua và toàn văn được công bố, đây sẽ là một đạo luật có tác động lớn đến hoạt động đầu tư và sử dụng đất của doanh nghiệp trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài, cần được theo dõi và cập nhật lại khi có nội dung đầy đủ hơn.
Nghị định 292/2026/NĐ-CP: Quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý ngoại thương
Decree 292/2026/ND-CP: Detailed Regulations Implementing Vietnam's Law on Foreign Trade Management
Nghị định 292/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 22/7/2026 và đăng Công báo số 456 ngày 03/8/2026, quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý ngoại thương. Đây là văn bản khung bao trùm toàn bộ hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh hàng hóa, gia công hàng hóa có yếu tố nước ngoài và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài. Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, nghị định làm rõ: thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư nước ngoài được tự do kinh doanh xuất nhập khẩu, trừ hàng hóa thuộc danh mục cấm hoặc tạm ngừng; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIE) chỉ được xuất nhập khẩu phục vụ đúng mục tiêu dự án đầu tư và không được kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu (chỉ được thực hiện dưới hình thức hàng đi thẳng, không qua cửa khẩu Việt Nam). Nghị định quy định cụ thể hồ sơ, quy trình, thời hạn cấp phép, thường 2-5 ngày làm việc, cho các loại giấy phép: xuất nhập khẩu hàng cấm trong trường hợp đặc biệt, hàng tạm ngừng xuất nhập khẩu, kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, cùng thời hạn lưu giữ hàng hóa tạm nhập tại Việt Nam, tối đa 60 ngày, gia hạn không quá 2 lần. Nghị định cũng quy định chi tiết về Giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) cho hàng xuất khẩu và nhập khẩu, gồm cơ quan cấp, hồ sơ, thời hạn xử lý và hiệu lực 5 năm với CFS xuất khẩu. Ngoài ra, nghị định thiết lập cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành để giải quyết tranh chấp quốc tế về áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương, ví dụ khi Chính phủ nước ngoài khởi kiện Việt Nam tại trọng tài hoặc tòa án quốc tế. Đây là quy định nền tảng mà mọi doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đặc biệt doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, cần nắm để tuân thủ đúng thủ tục cấp phép và tránh vi phạm.
Hộ kinh doanh doanh thu dưới 1 tỷ đồng kê khai vào cột nào trên Mẫu 01/TKN-CNKD?
MOF clarifies which column reports revenue below the VAT threshold on Form 01/TKN-CNKD
Bộ Tài chính (qua Thuế cơ sở 2 tỉnh Khánh Hòa) vừa giải đáp thắc mắc của một hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai về cách kê khai doanh thu dưới 1 tỷ đồng trên Mẫu số 01/TKN-CNKD (theo Thông tư 50/2026/TT-BTC). Với câu hỏi doanh thu dưới ngưỡng chịu thuế thì điền vào cột nào, cơ quan thuế không đưa ra hướng dẫn cụ thể vì hộ kinh doanh chưa nêu rõ ngành nghề kinh doanh, và yêu cầu liên hệ trực tiếp cơ quan thuế quản lý để được hướng dẫn theo đúng ngành nghề thực tế. Về câu hỏi thứ hai - Cột 3 «Doanh thu không chịu thuế GTGT» áp dụng cho trường hợp nào - Bộ Tài chính khẳng định chỉ tiêu này áp dụng theo đúng Điều 5 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 (đã được sửa đổi bởi Luật số 149/2025/QH15 và Luật số 09/2026/QH16), tức là chỉ dành cho sản phẩm nông, lâm, thủy sản chưa qua chế biến hoặc chỉ sơ chế thông thường do chính tổ chức, cá nhân sản xuất, đánh bắt bán ra, hoặc ở khâu nhập khẩu - không áp dụng chung cho mọi hộ kinh doanh có doanh thu dưới ngưỡng chịu thuế. Đây là lưu ý quan trọng cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh: doanh thu dưới ngưỡng chịu thuế GTGT (hiện là dưới 1 tỷ đồng) không tự động thuộc diện «không chịu thuế GTGT» theo Cột 3 của tờ khai - đây là hai khái niệm khác nhau. Hộ kinh doanh nên liên hệ cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được hướng dẫn điền đúng chỉ tiêu theo ngành nghề cụ thể, tránh kê khai sai gây rủi ro về sau.
BHXH Việt Nam: Mức đóng BHXH của công chức tập sự tính trên 85% lương bậc 1, không phải 100%
Vietnam Social Insurance: Probationary Civil Servants' Contributions Based on 85% of Step 1 Salary, Not 100%
Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam vừa có văn bản trả lời thắc mắc của độc giả về căn cứ tính đóng BHXH đối với công chức trong thời gian tập sự. Theo điểm a khoản 1 Điều 31 Luật BHXH số 41/2024/QH15, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH đối với người hưởng lương do Nhà nước quy định là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và các khoản phụ cấp liên quan (nếu có). BHXH Việt Nam khẳng định: trong thời gian tập sự, công chức chỉ được cơ quan nhà nước trả 85% mức lương bậc 1 theo ngạch, do đó căn cứ để trích đóng BHXH, cả phần cơ quan đóng và phần 8% người lao động tự trích nộp, đều tính trên mức 85% này, không phải mức 100% của bậc 1. Đây là điểm cần lưu ý đối với bộ phận nhân sự, kế toán tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức có sử dụng lao động theo thang bảng lương nhà nước, để tính đúng số tiền BHXH phải trích nộp trong giai đoạn tập sự, tránh đóng thừa hoặc thiếu.
Xác định lãi tiền gửi tiết kiệm dự thu khi lập BCTC doanh nghiệp giải thể theo Thông tư 99/2025/TT-BTC
Determining Accrued Savings Deposit Interest When Preparing Financial Statements for a Dissolving Company Under Circular 99/2025/TT-BTC
Một doanh nghiệp đang giải thể hỏi Bộ Tài chính nên tính lãi tiền gửi tiết kiệm dự thu đến thời điểm nào khi lập báo cáo tài chính, trong bối cảnh Thông tư 99/2025/TT-BTC yêu cầu lập BCTC khi doanh nghiệp không còn hoạt động liên tục. Bộ Tài chính (Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán) trả lời rằng BCTC phải được lập tại «thời điểm giải thể» theo quy định của Luật Doanh nghiệp, chứ không phải tại thời điểm công ty ra quyết định giải thể như nhiều doanh nghiệp vẫn hiểu. Doanh nghiệp cần xác định đúng mốc thời gian này theo Luật Doanh nghiệp trước khi lập báo cáo. Về khoản lãi dự thu của tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn, doanh nghiệp áp dụng nguyên tắc kế toán tại Tài khoản 128 (Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn) theo Thông tư 99/2025/TT-BTC, kết hợp với thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng tiền gửi, để ghi nhận lãi phù hợp với thời điểm giải thể đã xác định thay vì một trong ba mốc mà công ty đề xuất.
Hướng dẫn ghi hóa đơn điều chỉnh chiết khấu thương mại theo sản lượng (Nghị định 254/2026/NĐ-CP, Thông tư 91/2026/TT-BTC)
Guidance on Recording Volume-Based Trade Discount Adjustment Invoices (Decree 254/2026/ND-CP, Circular 91/2026/TT-BTC)
Một doanh nghiệp áp dụng chiết khấu thương mại cuối kỳ theo sản lượng hỏi Bộ Tài chính về cách lập bảng kê kèm hóa đơn chiết khấu, việc ghi số âm giá trị chiết khấu trên hóa đơn, và cách ghi dòng diễn giải. Cơ quan thuế trả lời bằng cách trích dẫn Nghị định 254/2026/NĐ-CP và Thông tư 91/2026/TT-BTC (đều ban hành 30/6/2026, hướng dẫn Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 về hóa đơn điện tử). Theo quy định được trích dẫn, khi doanh nghiệp áp dụng chiết khấu thương mại theo sản lượng, doanh số, số tiền chiết khấu được điều chỉnh trên hóa đơn của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp theo, không vượt quá giá trị hàng hóa trên hóa đơn đó, hoặc được lập hóa đơn điều chỉnh kèm bảng kê ghi rõ số hóa đơn cần điều chỉnh, số tiền và tiền thuế điều chỉnh; bảng kê lưu tại đơn vị, xuất trình khi cơ quan thuế yêu cầu. Đáng chú ý, quy định xác nhận hóa đơn điều chỉnh giảm phải ghi số âm, điều chỉnh tăng ghi số dương, đúng với thực tế điều chỉnh - trả lời trực tiếp câu hỏi của doanh nghiệp về việc ghi số âm. Cơ quan thuế không nêu cụ thể cách ghi dòng diễn giải trên hóa đơn chiết khấu, mà đề nghị doanh nghiệp tự đối chiếu quy định với thực tế phát sinh, hoặc liên hệ Thuế cơ sở 12 TP. Hồ Chí Minh (Tổ quản lý, hỗ trợ doanh nghiệp số 3) nếu còn vướng mắc. Đây là hướng dẫn hữu ích cho các doanh nghiệp có chính sách chiết khấu thương mại theo sản lượng khi lập hóa đơn điện tử theo quy định mới.
BHXH Việt Nam: Người lao động mới đi làm trong tháng vẫn phải đóng BHXH bắt buộc dù đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tháng đó
Vietnam Social Insurance: New employees must have mandatory social insurance paid even during a month they still draw unemployment benefits
Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam vừa trả lời thắc mắc của một người lao động về nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc khi người này vừa chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp (TCTN) để đi làm trở lại trong cùng tháng. Người lao động bắt đầu công việc mới từ giữa tháng, làm việc liên tục đến hết tháng, nhưng doanh nghiệp từ chối đóng BHXH cho tháng đó vì cho rằng người lao động đã được hưởng TCTN trọn tháng theo quyết định hưởng trợ cấp trước đó. Theo trả lời chính thức, căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Luật Việc làm và các văn bản hướng dẫn thi hành, người lao động bắt đầu làm việc và có hưởng tiền lương, làm việc liên tục đến hết tháng thì thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN ngay từ tháng đó. Việc người lao động đồng thời được hưởng trọn tháng TCTN cuối cùng theo quy định về chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp (khoản 4 Điều 19 Nghị định 374/2025/NĐ-CP) không loại trừ nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc phát sinh từ quan hệ lao động thực tế. Cơ quan BHXH cho biết sẽ phối hợp với đơn vị sử dụng lao động rà soát hồ sơ và hướng dẫn truy đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN cho người lao động theo đúng quy định. Nội dung này có ý nghĩa thực tiễn với doanh nghiệp: không được từ chối đóng BHXH cho người lao động mới tuyển chỉ vì lý do người đó đang trong thời gian hưởng TCTN của tháng trước đó, và không cần yêu cầu người lao động hoàn trả tiền TCTN trước khi tham gia BHXH. Doanh nghiệp cần chủ động rà soát, truy đóng đầy đủ để tránh vi phạm nghĩa vụ đóng bảo hiểm bắt buộc theo khoản 5 Điều 32 Luật BHXH.
[Dự thảo] Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tài nguyên
[Draft] Law Amending and Supplementing the Law on Natural Resources Tax
Bộ Tài chính đang chủ trì soạn thảo một dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tài nguyên hiện hành. Đây là bước đầu trong quy trình lập pháp, dự thảo hiện đang được Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội thẩm tra trước khi trình Quốc hội xem xét. Theo kế hoạch, dự thảo luật này dự kiến sẽ được trình và thông qua tại Kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa XVI. Tại thời điểm này, nội dung chi tiết của các sửa đổi (mức thuế suất, đối tượng chịu thuế, phương pháp tính thuế...) chưa được công bố công khai trên cổng dự thảo, nên doanh nghiệp trong lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, dầu khí, nước, lâm sản...) nên theo dõi sát diễn biến để chuẩn bị điều chỉnh khi luật chính thức có hiệu lực. RegHub sẽ tiếp tục cập nhật khi có thêm thông tin chi tiết về nội dung sửa đổi cụ thể của dự thảo luật này.
Bộ Tài chính hướng dẫn hạch toán Quỹ nhà ở địa phương trực thuộc Quỹ Đầu tư phát triển địa phương
Ministry of Finance Guidance on Accounting for Local Housing Funds Managed by Development Investment Funds
Bộ Tài chính (Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán) đã có công văn trả lời câu hỏi của một độc giả về việc hạch toán kế toán giữa Quỹ Đầu tư phát triển địa phương (Quỹ ĐTPTĐP) và Quỹ nhà ở địa phương, trong trường hợp Quỹ ĐTPTĐP được giao quản lý Quỹ nhà ở theo Nghị định số 302/2025/NĐ-CP ngày 19/11/2025. Theo hướng dẫn, khi Quỹ ĐTPTĐP nhận ủy thác quản lý hoạt động và nguồn vốn của Quỹ nhà ở địa phương, quỹ này phải hạch toán tách bạch vốn nhận ủy thác và tài sản hình thành từ vốn ủy thác với nguồn vốn hoạt động và tài sản riêng của Quỹ ĐTPTĐP, theo khoản 3 Điều 32 và Điều 38 Nghị định số 147/2020/NĐ-CP. Việc ghi nhận kế toán hoạt động ủy thác thực hiện theo Thông tư số 90/2021/TT-BTC, trong đó Quỹ được phép mở thêm tài khoản chi tiết để phục vụ yêu cầu quản lý riêng. Bộ Tài chính cũng lưu ý các nội dung khác như quyết toán doanh thu, chi phí, phân phối chênh lệch thu chi và lập kế hoạch tài chính hàng năm của Quỹ nhà ở không thuộc thẩm quyền của Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán, và sẽ được chuyển sang đơn vị chức năng khác trả lời. Nội dung này chủ yếu áp dụng cho các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách ở cấp tỉnh, không tác động trực tiếp đến hoạt động kế toán, thuế của doanh nghiệp tư nhân hay hộ kinh doanh.
Hoàn tiền chênh lệch thuế sử dụng đất sau khi tính lại theo Nghị định 50/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 254/2025/QH15
Refunding the Land Use Fee Overpayment After Recalculation Under Decree 50/2026/ND-CP and Resolution 254/2025/QH15
Một người nộp thuế tại Đà Nẵng đã được cơ quan thuế tính lại tiền sử dụng đất theo Nghị định 50/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 254/2025/QH15, kết quả cho thấy có khoản tiền nộp thừa cần hoàn trả. Tuy nhiên cán bộ thuế cho biết cổng dịch vụ công hiện chưa có quy trình riêng để nộp hồ sơ hoàn thuế trong trường hợp này, khiến người nộp thuế phải chờ đợi. Trả lời câu hỏi, Thuế khu vực 9 (Đà Nẵng) trích dẫn điểm d khoản 2 Điều 12 Nghị định 50/2026/NĐ-CP: nếu hộ gia đình, cá nhân đã nộp đủ tiền sử dụng đất theo thông báo cũ và số tiền sau khi tính lại thấp hơn số đã nộp, phần chênh lệch sẽ được hoàn trả bằng cách bù trừ vào nghĩa vụ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khác; nếu không còn nghĩa vụ nào để bù trừ thì được hoàn trả bằng tiền theo quy định pháp luật về ngân sách nhà nước và quản lý thuế. Về thủ tục cụ thể, cơ quan thuế viện dẫn Thông tư 80/2021/TT-BTC (đã sửa đổi bởi Thông tư 94/2025/TT-BTC): người nộp thuế có tiền nộp thừa và không còn nợ thuế thì gửi hồ sơ đề nghị hoàn trả theo mẫu 01/DNXLNT (kèm giấy ủy quyền nếu không trực tiếp thực hiện) đến chính cơ quan thuế đang quản lý khoản thu, không cần chờ chức năng riêng trên cổng dịch vụ công. Đây là hướng dẫn hữu ích cho các hộ gia đình, cá nhân và doanh nghiệp nhỏ đang có đất được tính lại tiền sử dụng đất theo quy định chuyển tiếp của Nghị quyết 254/2025/QH15, giúp họ chủ động thực hiện thủ tục hoàn thuế thay vì chờ đợi hệ thống điện tử được cập nhật.
BHXH Việt Nam hướng dẫn thủ tục ủy quyền nhận BHXH một lần sau khi bãi bỏ Mẫu số 13-HSB theo Quyết định 313/QĐ-BHXH
Vietnam Social Security Clarifies Power-of-Attorney Procedure for One-Time Benefits After Form 13-HSB Is Abolished (Decision 313/QD-BHXH)
Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam vừa có văn bản trả lời phản ánh về thủ tục ủy quyền nhận BHXH một lần sau khi Quyết định số 313/QĐ-BHXH (ban hành 27/3/2026) bãi bỏ Mẫu số 13-HSB (Văn bản ủy quyền). BHXH Việt Nam khẳng định rõ việc bãi bỏ mẫu biểu này chỉ là thay đổi về thành phần hồ sơ, quy trình nghiệp vụ nhằm cải cách thủ tục hành chính, không làm mất quyền ủy quyền của người lao động theo quy định pháp luật. Theo điểm d khoản 2 Điều 10 Luật BHXH 2024 (hiệu lực từ 01/7/2025), người hưởng chế độ BHXH vẫn có quyền ủy quyền bằng văn bản cho người khác nhận thay; văn bản ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp có hiệu lực tối đa 12 tháng và phải được chứng thực theo quy định. Đối với người lao động đang cư trú, làm việc ở nước ngoài, văn bản ủy quyền phải được cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài chứng nhận, hoặc công chứng, chứng thực hợp pháp và hợp pháp hóa lãnh sự (trừ trường hợp được miễn) mới có giá trị sử dụng tại Việt Nam. BHXH Việt Nam cũng ghi nhận phản ánh về việc một số cán bộ địa phương từ chối hồ sơ ủy quyền một cách cứng nhắc, và đề nghị người dân cung cấp thông tin cụ thể (cơ quan tiếp nhận, thời gian, tài liệu liên quan) để được kiểm tra, xử lý. Doanh nghiệp sử dụng lao động, đặc biệt lao động đi làm việc ở nước ngoài, và người lao động cần lưu ý chuẩn bị đúng loại văn bản ủy quyền hợp lệ khi làm thủ tục hưởng BHXH một lần.




