Kho kiến thức

Bài giải thích của RegHub về văn bản chính thức về thuế, kế toán và hóa đơn, viết bằng ngôn ngữ dễ hiểu.

Lao động

Tiền lương, hợp đồng lao động, thời giờ làm việc, bảo hiểm xã hội và giấy phép lao động.

Tất Cả Danh Mục
Đăng ký doanh nghiệp & Đầu tư nước ngoài
Thuế TNDN
Hải quan
Hóa đơn điện tử
IFRS / Chuẩn mực kế toán
Lao động
Thuế thu nhập cá nhân
Bất động sản & Đất đai
Thuế GTGT
Tất Cả Mức Độ
Nghiêm trọng
Cao
Trung bình
Thấp
Thông tin
Thấp
Thông tư
Lao động

Văn bản hợp nhất 40/VBHN-NHNN: Hướng dẫn cho vay có bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV

Consolidated Document 40/VBHN-NHNN: Guidelines for Lending with SME Credit Guarantee Fund Guarantees

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Văn bản hợp nhất số 40/VBHN-NHNN, hợp nhất Thông tư số 45/2018/TT-NHNN (có hiệu lực từ ngày 12/02/2019) về hướng dẫn các tổ chức tín dụng trong cho vay có bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng (QBLTD) cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) theo Nghị định số 34/2018/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 85/2025/TT-NHNN. Văn bản quy định quy trình phối hợp giữa tổ chức tín dụng và QBLTD, nội dung tối thiểu của thỏa thuận phối hợp, nguyên tắc cho vay có bảo lãnh (cho vay bằng đồng Việt Nam, tổ chức tín dụng tự chịu trách nhiệm về quyết định cho vay), và lãi suất cho vay không được cao hơn lãi suất cùng kỳ hạn, cùng ngành, lĩnh vực của bên cho vay. Thông tư 85/2025/TT-NHNN sửa đổi chủ yếu là thay đổi tổ chức bộ máy: bãi bỏ khoản 2 Điều 7, thay cụm từ "Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố" bằng "Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực", và cập nhật trách nhiệm của các đơn vị thuộc NHNN. Đây là văn bản hợp nhất mang tính kỹ thuật, có hiệu lực từ ngày 31/12/2025.

Hiệu lực: 12/2/20197/5/2026
Thấp
Thông tư
Lao động

Văn bản hợp nhất số 08/VBHN-BCT: Quy định về quản lý hoạt động thương mại điện tử qua ứng dụng trên thiết bị di động

Consolidated Document 08/VBHN-BCT: Regulations on Management of E-Commerce Activities via Mobile Applications

Ngày 03/02/2026, Bộ Công Thương ban hành Văn bản hợp nhất số 08/VBHN-BCT, gộp Thông tư số 59/2015/TT-BCT cùng ba lần sửa đổi (Thông tư 21/2018, 01/2022 và 38/2025) thành một bản quy định thống nhất về quản lý thương mại điện tử qua ứng dụng di động. Đây là văn bản hợp nhất mang tính tra cứu, không phát sinh nghĩa vụ pháp lý mới so với các văn bản gốc đang có hiệu lực. Văn bản áp dụng cho ba nhóm chủ thể: thương nhân, tổ chức, cá nhân sở hữu «ứng dụng bán hàng» (app bán hàng riêng của doanh nghiệp); chủ sở hữu «ứng dụng cung cấp dịch vụ thương mại điện tử» (sàn giao dịch, app khuyến mại, app đấu giá trực tuyến); và người bán sử dụng các ứng dụng đó để kinh doanh. Chủ ứng dụng bán hàng có chức năng đặt hàng trực tuyến phải thông báo với Bộ Công Thương; chủ ứng dụng dịch vụ thương mại điện tử phải đăng ký, công bố quy chế hoạt động, chính sách bảo vệ thông tin cá nhân và cơ chế giải quyết khiếu nại. Văn bản cũng quy định về giao kết hợp đồng trực tuyến, thanh toán trực tuyến, và việc Bộ Công Thương công bố danh sách ứng dụng đã đăng ký hoặc vi phạm trên Cổng thông tin Quản lý hoạt động thương mại điện tử. Với chủ doanh nghiệp và kế toán, đây là quy định thủ tục hành chính do Bộ Công Thương quản lý (đăng ký/thông báo ứng dụng bán hàng trực tuyến), không thuộc phạm vi thuế, hóa đơn điện tử, kế toán hay hải quan. Doanh nghiệp bán hàng qua app di động nên lưu ý nghĩa vụ đăng ký/thông báo này để tránh bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng đây không phải là thay đổi chính sách thuế.

Hiệu lực: 31/3/201624/2/2026
Thấp
Công văn
Lao động

BHXH Việt Nam hướng dẫn xác định tiền lương đóng BHXH bắt buộc cho lao động làm việc theo hợp đồng khoán, lương sản phẩm

Vietnam Social Insurance clarifies the wage base for mandatory social insurance contributions on lump-sum and piece-rate labor contracts

Nhiều doanh nghiệp xây dựng và các ngành khác đang sử dụng hợp đồng giao khoán (khoán việc, lương sản phẩm) cho người lao động, nhưng gặp vướng mắc khi xác định mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc, do thu nhập thực tế của người lao động biến động theo tháng và chỉ xác định được sau khi kết thúc tháng làm việc. Trả lời câu hỏi của doanh nghiệp, Bảo hiểm xã hội Việt Nam dẫn khoản 1 Điều 7 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP và Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH, nêu rõ: đối với người lao động hưởng lương theo sản phẩm hoặc lương khoán, doanh nghiệp phải ghi trong hợp đồng lao động mức lương tính theo thời gian (theo tháng) dùng để xác định đơn giá sản phẩm hoặc đơn giá khoán. Chính mức lương theo thời gian này, chứ không phải số tiền thực nhận biến động hằng tháng, mới là căn cứ để tính tiền lương đóng BHXH bắt buộc, cùng với các khoản phụ cấp và khoản bổ sung khác có mức xác định cụ thể, trả ổn định, thường xuyên (không bao gồm phần biến động theo năng suất hay sản lượng). Như vậy, doanh nghiệp cần thỏa thuận và ghi rõ mức lương theo thời gian trong hợp đồng lao động ngay từ đầu, thay vì chờ đến cuối tháng mới xác định thu nhập thực tế rồi mới tính mức đóng BHXH. Cách làm này giúp doanh nghiệp tránh tình trạng chậm đóng, đóng thừa hoặc đóng thiếu BHXH hằng tháng cho người lao động làm việc theo hình thức khoán, lương sản phẩm.

11/8/2026
Thấp
Công văn
Lao động

BHXH Việt Nam: Mức đóng BHXH của công chức tập sự tính trên 85% lương bậc 1, không phải 100%

Vietnam Social Insurance: Probationary Civil Servants' Contributions Based on 85% of Step 1 Salary, Not 100%

Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam vừa có văn bản trả lời thắc mắc của độc giả về căn cứ tính đóng BHXH đối với công chức trong thời gian tập sự. Theo điểm a khoản 1 Điều 31 Luật BHXH số 41/2024/QH15, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH đối với người hưởng lương do Nhà nước quy định là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và các khoản phụ cấp liên quan (nếu có). BHXH Việt Nam khẳng định: trong thời gian tập sự, công chức chỉ được cơ quan nhà nước trả 85% mức lương bậc 1 theo ngạch, do đó căn cứ để trích đóng BHXH, cả phần cơ quan đóng và phần 8% người lao động tự trích nộp, đều tính trên mức 85% này, không phải mức 100% của bậc 1. Đây là điểm cần lưu ý đối với bộ phận nhân sự, kế toán tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức có sử dụng lao động theo thang bảng lương nhà nước, để tính đúng số tiền BHXH phải trích nộp trong giai đoạn tập sự, tránh đóng thừa hoặc thiếu.

2/8/2026
Thấp
Công văn
Lao động

BHXH Việt Nam: Người lao động mới đi làm trong tháng vẫn phải đóng BHXH bắt buộc dù đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tháng đó

Vietnam Social Insurance: New employees must have mandatory social insurance paid even during a month they still draw unemployment benefits

Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam vừa trả lời thắc mắc của một người lao động về nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc khi người này vừa chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp (TCTN) để đi làm trở lại trong cùng tháng. Người lao động bắt đầu công việc mới từ giữa tháng, làm việc liên tục đến hết tháng, nhưng doanh nghiệp từ chối đóng BHXH cho tháng đó vì cho rằng người lao động đã được hưởng TCTN trọn tháng theo quyết định hưởng trợ cấp trước đó. Theo trả lời chính thức, căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Luật Việc làm và các văn bản hướng dẫn thi hành, người lao động bắt đầu làm việc và có hưởng tiền lương, làm việc liên tục đến hết tháng thì thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN ngay từ tháng đó. Việc người lao động đồng thời được hưởng trọn tháng TCTN cuối cùng theo quy định về chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp (khoản 4 Điều 19 Nghị định 374/2025/NĐ-CP) không loại trừ nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc phát sinh từ quan hệ lao động thực tế. Cơ quan BHXH cho biết sẽ phối hợp với đơn vị sử dụng lao động rà soát hồ sơ và hướng dẫn truy đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN cho người lao động theo đúng quy định. Nội dung này có ý nghĩa thực tiễn với doanh nghiệp: không được từ chối đóng BHXH cho người lao động mới tuyển chỉ vì lý do người đó đang trong thời gian hưởng TCTN của tháng trước đó, và không cần yêu cầu người lao động hoàn trả tiền TCTN trước khi tham gia BHXH. Doanh nghiệp cần chủ động rà soát, truy đóng đầy đủ để tránh vi phạm nghĩa vụ đóng bảo hiểm bắt buộc theo khoản 5 Điều 32 Luật BHXH.

2/8/2026
Thấp
Công văn
Lao động

BHXH Việt Nam hướng dẫn thủ tục ủy quyền nhận BHXH một lần sau khi bãi bỏ Mẫu số 13-HSB theo Quyết định 313/QĐ-BHXH

Vietnam Social Security Clarifies Power-of-Attorney Procedure for One-Time Benefits After Form 13-HSB Is Abolished (Decision 313/QD-BHXH)

Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam vừa có văn bản trả lời phản ánh về thủ tục ủy quyền nhận BHXH một lần sau khi Quyết định số 313/QĐ-BHXH (ban hành 27/3/2026) bãi bỏ Mẫu số 13-HSB (Văn bản ủy quyền). BHXH Việt Nam khẳng định rõ việc bãi bỏ mẫu biểu này chỉ là thay đổi về thành phần hồ sơ, quy trình nghiệp vụ nhằm cải cách thủ tục hành chính, không làm mất quyền ủy quyền của người lao động theo quy định pháp luật. Theo điểm d khoản 2 Điều 10 Luật BHXH 2024 (hiệu lực từ 01/7/2025), người hưởng chế độ BHXH vẫn có quyền ủy quyền bằng văn bản cho người khác nhận thay; văn bản ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp có hiệu lực tối đa 12 tháng và phải được chứng thực theo quy định. Đối với người lao động đang cư trú, làm việc ở nước ngoài, văn bản ủy quyền phải được cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài chứng nhận, hoặc công chứng, chứng thực hợp pháp và hợp pháp hóa lãnh sự (trừ trường hợp được miễn) mới có giá trị sử dụng tại Việt Nam. BHXH Việt Nam cũng ghi nhận phản ánh về việc một số cán bộ địa phương từ chối hồ sơ ủy quyền một cách cứng nhắc, và đề nghị người dân cung cấp thông tin cụ thể (cơ quan tiếp nhận, thời gian, tài liệu liên quan) để được kiểm tra, xử lý. Doanh nghiệp sử dụng lao động, đặc biệt lao động đi làm việc ở nước ngoài, và người lao động cần lưu ý chuẩn bị đúng loại văn bản ủy quyền hợp lệ khi làm thủ tục hưởng BHXH một lần.

20/7/2026
Trung bình
Công văn
Lao động

Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi thường xuyên có được dùng nguồn thu phí để lại để chi trả chế độ theo Nghị định 178/2024/NĐ-CP?

Can a Partially Self-Financed Public Service Unit Use Retained Fee Revenue to Pay Benefits Under Decree 178/2024/ND-CP?

Bộ Tài chính vừa giải đáp thắc mắc của một đơn vị sự nghiệp công lập (Trung tâm Xúc tiến Du lịch, tự bảo đảm một phần chi thường xuyên) về nguồn kinh phí chi trả chế độ nghỉ hưu, thôi việc cho người lao động theo Nghị định 178/2024/NĐ-CP. Câu hỏi đặt ra là: đối với số người lao động ngoài chỉ tiêu biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước, đơn vị có được dùng nguồn thu phí được để lại đơn vị để chi trả hay không. Theo điểm b, khoản 2, Điều 3 Thông tư số 07/2025/TT-BTC, đối với những người lao động này, đơn vị được tự sắp xếp từ dự toán ngân sách nhà nước được giao, nguồn thu hoạt động sự nghiệp, và các nguồn thu hợp pháp khác để chi trả. Kết hợp với Điều 15 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP quy định nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập nhóm 3 (tự bảo đảm một phần chi thường xuyên) bao gồm ngân sách nhà nước, nguồn thu hoạt động sự nghiệp, nguồn thu phí được để lại và nguồn thu khác. Bộ Tài chính khẳng định: đơn vị được phép sử dụng cả nguồn dự toán ngân sách nhà nước được giao hàng năm, nguồn thu hoạt động sự nghiệp, nguồn thu phí được để lại, và các nguồn thu hợp pháp khác để chi trả cho các đối tượng hưởng chế độ, chính sách theo Nghị định 178/2024/NĐ-CP. Đây là thông tin quan trọng cho các đơn vị sự nghiệp công lập nhóm 2, nhóm 3 đang thực hiện tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy trong giai đoạn hiện nay.

4/7/2026
Trung bình
Công văn
Thuế GTGT
Hóa đơn điện tử
Lao động

Hỏi đáp: Thời điểm xuất hóa đơn đối với dịch vụ cung ứng lao động

Q&A: Invoice issuance timing for labour supply services

Thuế cơ sở 10 tỉnh Đồng Nai giải đáp: theo Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 123/2020/NĐ-CP, thời điểm lập hóa đơn đối với dịch vụ là thời điểm hoàn thành cung cấp dịch vụ không phân biệt đã thu được tiền hay chưa, hoặc thời điểm lập hóa đơn nếu lập trước khi hoàn thành dịch vụ hoặc thu tiền. Dịch vụ cung ứng lao động không phải là dịch vụ có quy định ngoại lệ trong Nghị định 70/2025/NĐ-CP. Do đó, nếu đơn vị xác định thời điểm hoàn thành dịch vụ là ngày kết thúc rà soát và ký bàn giao (08/4/2026) và xuất hóa đơn cùng ngày, thì thời điểm xuất hóa đơn là phù hợp với quy định, với điều kiện thời điểm đó đúng là thời điểm hoàn thành dịch vụ.

3/6/2026
Trung bình
Công văn
Lao động

BHXH Việt Nam giải đáp: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có thể tham gia BHXH tự nguyện không?

Vietnam Social Insurance Q&A: Can Overseas Vietnamese Join Voluntary Social Insurance?

Bảo hiểm Xã hội Việt Nam xác nhận rằng người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài thuộc đối tượng được tham gia BHXH tự nguyện theo khoản 4 Điều 2 Luật BHXH số 41/2024/QH15. Mức đóng là 22% thu nhập làm căn cứ đóng, với mức tối thiểu bằng chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn (hiện tại 1.500.000 đồng/tháng) và tối đa là 20 lần mức tham chiếu (hiện tại 46.800.000 đồng/tháng). Thủ tục đăng ký: nộp Tờ khai TK1-TS cho tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng hoặc cơ quan BHXH. Có thể đăng ký trực tuyến qua Cổng dịch vụ công BHXH Việt Nam (dichvucong.baohiemxahoi.gov.vn) hoặc Cổng Dịch vụ công Quốc gia (dichvucong.gov.vn). Nhà nước hỗ trợ mức đóng cho người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo. Đây là thông tin hữu ích cho chủ doanh nghiệp nhỏ và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài muốn tích lũy quyền lợi hưu trí trong nước.

29/5/2026
Trung bình
Công văn
Lao động

Hướng dẫn về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với hướng dẫn viên du lịch tự do

Mandatory Social Insurance for Freelance Tour Guides: Eligibility Guidance

BHXH TP. Hà Nội trả lời câu hỏi của Công ty TNHH Du lịch One More Destination về nghĩa vụ BHXH bắt buộc đối với hướng dẫn viên tiếng Tây Ban Nha hành nghề tự do hợp tác theo từng tour. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 2 Luật BHXH số 41/2024/QH15, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là người làm việc theo hợp đồng lao động, kể cả hợp đồng có tên gọi khác nhưng có nội dung về việc làm có trả công và sự quản lý, điều hành của một bên. Tuy nhiên, theo khoản 5 Điều 33 Luật BHXH, người lao động không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không phải đóng BHXH tháng đó (trừ khi hai bên thỏa thuận khác). BHXH Hà Nội yêu cầu công ty phối hợp với BHXH cơ sở Tây Hồ (mã đơn vị TC0839C) để kiểm tra, xác định từng trường hợp cụ thể dựa trên hồ sơ thực tế.

28/5/2026
Thấp
Công văn
Lao động

Hướng dẫn mẫu biểu giao dự toán bổ sung nhiều lần trong năm của UBND cấp xã theo Thông tư 26/2026/TT-BTC

Guidance on Budget Allocation Forms for Multiple Supplementary Estimates by Commune-level People's Committees under Circular 26/2026/TT-BTC

Bộ Tài chính hướng dẫn rằng khi UBND cấp xã quyết định giao dự toán bổ sung nhiều lần trong năm cho các đơn vị dự toán cấp I, cần thực hiện theo biểu mẫu tương tự các mẫu số 47, 48 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 26/2026/TT-BTC. Đồng thời phải đảm bảo nội dung giao chi tiết cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc; chi đầu tư phát triển chi tiết theo lĩnh vực; chi thường xuyên chi tiết theo từng lĩnh vực. Chính phủ không giao Bộ Tài chính ban hành biểu mẫu riêng cho UBND cấp xã - Nghị định số 73/2026/NĐ-CP chỉ giao Bộ Tài chính quy định mẫu biểu giao dự toán của đơn vị dự toán cấp I cho đơn vị sử dụng ngân sách. Thẩm quyền quy định tài liệu thuyết minh căn cứ phân bổ của đơn vị dự toán cấp I thuộc Sở Tài chính trình UBND cấp tỉnh. Cơ sở pháp lý: khoản 5, khoản 7 Điều 32 và khoản 1 Điều 33 Luật NSNN; Nghị định số 73/2026/NĐ-CP; Thông tư số 26/2026/TT-BTC.

26/5/2026
Trung bình
Công văn
Lao động

Hướng dẫn của Bộ Tài chính về hình thức văn bản giao UBND cấp tỉnh quyết định chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách địa phương

Ministry of Finance guidance on the legal instrument form for delegating local budget expenditure norms to provincial People's Committees

Bộ Tài chính hướng dẫn rằng khi HĐND cấp tỉnh giao UBND cấp tỉnh quyết định cụ thể đối với chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách theo Điểm h Khoản 9 Điều 31 Luật NSNN số 89/2025/QH15, HĐND **bắt buộc phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật** (Nghị quyết quy phạm pháp luật) — không thể dùng văn bản hành chính (Nghị quyết hành chính/cá biệt) vì việc phân cấp phải được quy định trong VBQPPL theo Khoản 2 Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Đối với trường hợp Nghị định chuyên ngành giao thẩm quyền trực tiếp cho UBND cấp tỉnh, HĐND vẫn phải ban hành VBQPPL giao nhiệm vụ cho UBND nếu nhiệm vụ đó thuộc phạm vi điều chỉnh của Điểm h Khoản 9 Điều 31 Luật NSNN. Việc UBND tự quyết định mà không có VBQPPL của HĐND giao là chưa phù hợp quy định.

15/5/2026