Kho kiến thức
Bài giải thích của RegHub về văn bản chính thức về thuế, kế toán và hóa đơn, viết bằng ngôn ngữ dễ hiểu.
Nghị định 147/2026/NĐ-CP: Hướng dẫn tháo gỡ khó khăn cho dự án đất đai tồn đọng theo Nghị quyết 29/2026/QH16
Decree 147/2026/ND-CP: Implementing Rules for Resolving Stalled Land Projects under National Assembly Resolution 29/2026
Nghị định 147/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 07/5/2026, hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội về cơ chế đặc thù xử lý các dự án đất đai tồn đọng, kéo dài do vi phạm pháp luật đất đai xảy ra trước khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực. Nghị định quy định cụ thể ba nhóm vấn đề: xử lý các dự án đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định; tiếp tục giao đất, cho thuê đất đối với các dự án vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư hoặc quản lý, sử dụng đất; và xử lý các dự án đầu tư trên đất mà Nhà nước đã thu hồi không đúng quy định. Đối với doanh nghiệp, điểm đáng chú ý nhất là quy định về cách tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất bổ sung khi được điều chỉnh mục đích sử dụng đất, theo công thức chênh lệch giữa giá đất mới và giá đất cũ tại thời điểm điều chỉnh, cùng quy trình, hồ sơ, thời hạn để Sở Xây dựng, Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai phối hợp xử lý. Nhà đầu tư có dự án bị vướng mắc pháp lý về đất đai như giấy chứng nhận cấp sai, thu hồi đất không đúng, hoặc vi phạm trong lựa chọn nhà đầu tư trước ngày Luật Đất đai 2024 có hiệu lực nên rà soát hồ sơ dự án để xác định có thuộc diện áp dụng cơ chế đặc thù này hay không. Nghị định có hiệu lực từ 07/5/2026 và áp dụng cho đến khi các cơ chế đặc thù tại Nghị quyết 29/2026/QH16 hết hiệu lực. Doanh nghiệp bất động sản, nhà đầu tư nước ngoài có dự án tồn đọng nên chủ động liên hệ Sở Tài chính hoặc Sở Nông nghiệp và Môi trường địa phương để được hướng dẫn thủ tục cụ thể.
Quyết định 808/QĐ-TTg: Giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược cho các bộ, ngành giai đoạn 2026 - 2030
Decision 808/QD-TTg: Assigning Strategic Technology Development Tasks to Ministries for 2026 - 2030
Ngày 06/5/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng (thay mặt Thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định số 808/QĐ-TTg giao 20 nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược gắn với các bài toán lớn của quốc gia cho 10 bộ, cơ quan trung ương giai đoạn 2026 - 2030, gồm Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Y tế, Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Danh mục nhiệm vụ bám theo Danh mục công nghệ chiến lược ban hành kèm Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg, trải rộng từ giống cây trồng - vật nuôi công nghệ gen, vắc xin thú y và vắc xin người thế hệ mới, liệu pháp tế bào, thiết bị y tế in 3D, an ninh năng lượng và lưới điện thông minh, tự chủ công nghiệp, đường sắt tốc độ cao, nền tảng giáo dục AI, hệ thống quản lý UAV, điện toán đám mây nội địa, an ninh mạng, đến trí tuệ nhân tạo tự chủ, mạng 5G/5G-Advanced, giám sát ngân hàng bằng AI và vệ tinh quan sát Trái đất. Các bộ chủ trì phải phối hợp doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và địa phương để hoàn thiện nội dung nhiệm vụ, xác định rõ sản phẩm đầu ra trước ngày 30/6/2026, sau đó tổ chức triển khai và chịu trách nhiệm về tiến độ. Kinh phí thực hiện lấy từ ngân sách nhà nước (qua Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia và dự toán ngân sách hằng năm của các bộ), kết hợp vốn góp của doanh nghiệp, tổ chức và khu vực tư nhân tham gia thực hiện. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký (06/5/2026). Đây là quyết định hành chính nội bộ phân công nhiệm vụ nghiên cứu - phát triển công nghệ chiến lược cho các cơ quan nhà nước, không phải văn bản quy phạm pháp luật về thuế, hóa đơn điện tử, hải quan hay lao động, nên không tạo ra nghĩa vụ tuân thủ trực tiếp cho phần lớn doanh nghiệp SME. Nội dung có thể đáng chú ý với các doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu hoặc nhà đầu tư quan tâm tham gia đồng tài trợ, hợp tác nghiên cứu trong các chương trình công nghệ chiến lược quốc gia này.
Thông tư 24/2026/TT-BCT: Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam - UAE
Circular 24/2026/TT-BCT: Rules of Origin for Goods under the Vietnam-UAE Comprehensive Economic Partnership Agreement
Ngày 05/5/2026, Bộ Công Thương ban hành Thông tư 24/2026/TT-BCT quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa áp dụng cho Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện (CEPA) giữa Việt Nam và Các Tiểu vương quốc Ả-rập Thống nhất (UAE), được ký ngày 28/10/2024. Thông tư xác định hai nhóm tiêu chí để hàng hóa được coi là có xuất xứ: xuất xứ thuần túy (trồng trọt, chăn nuôi, khai khoáng... hoàn toàn tại lãnh thổ một Nước thành viên) hoặc trải qua công đoạn gia công, chế biến đầy đủ, cụ thể là chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp 4 số (CTH) hoặc đạt hàm lượng giá trị gia tăng (QVC) tối thiểu 35% giá xuất xưởng, cùng ngưỡng linh hoạt (de minimis) 20% cho nguyên liệu không đáp ứng tiêu chí chuyển đổi mã số. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và UAE có ba cách để chứng minh xuất xứ nhằm hưởng ưu đãi thuế quan: C/O mẫu UAE-VN do Cục Xuất nhập khẩu hoặc UBND cấp tỉnh cấp, chứng từ tự chứng nhận xuất xứ do nhà xuất khẩu đủ điều kiện phát hành, hoặc tự khai báo xuất xứ đối với lô hàng trị giá không quá 500 USD. Chứng từ có hiệu lực 01 năm và phải nộp cho hải quan trong thời hạn đó. Thông tư cũng quy định thủ tục cấp C/O sau (retroactive), cấp lại khi mất hoặc hỏng, xử lý sai sót nhỏ, và quy trình kiểm tra, xác minh xuất xứ khi hải quan nước nhập khẩu nghi ngờ, với thời hạn phản hồi 06 tháng. Thông tư có hiệu lực từ 05/5/2026, nhưng cho phép cấp C/O cấp sau đối với hàng xuất khẩu từ Việt Nam kể từ ngày 03/02/2026, và hải quan chấp nhận chứng từ xuất xứ cho các tờ khai nhập khẩu đăng ký từ ngày 03/02/2026 - nghĩa là doanh nghiệp đã giao dịch với UAE trong giai đoạn này vẫn có thể xin hưởng ưu đãi thuế quan hồi tố. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu với UAE, đặc biệt SME và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia chuỗi cung ứng khu vực Trung Đông, cần rà soát hồ sơ chứng minh nguồn gốc nguyên liệu để tận dụng ưu đãi thuế quan theo CEPA.
Nghị định 143/2026/NĐ-CP: Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt Việt Nam - UAE (CEPA) giai đoạn 2026-2027
Decree 143/2026/ND-CP: Vietnam's Special Preferential Import Tariff Schedule under the Vietnam-UAE CEPA (2026-2027)
Nghị định 143/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 05/5/2026 quy định Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện (CEPA) giữa Việt Nam và Các Tiểu vương quốc Ả-rập Thống nhất (UAE) cho giai đoạn 2026-2027. Nghị định áp dụng thuế suất ưu đãi riêng cho hàng hóa nhập khẩu từ UAE, chi tiết theo từng mã HS 8 số, với hai mức thuế suất khác nhau cho năm 2026 và năm 2027 (thường thấp hơn ở năm 2027). Để được hưởng thuế suất CEPA, hàng hóa nhập khẩu phải đáp ứng đủ 3 điều kiện: (1) có tên trong Biểu thuế ưu đãi đặc biệt kèm theo nghị định, (2) được nhập khẩu trực tiếp từ UAE vào Việt Nam, và (3) có chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo đúng quy định của Hiệp định CEPA. Hàng hóa từ khu phi thuế quan Việt Nam nhập vào thị trường trong nước cũng phải đáp ứng điều kiện (1) và (3) để được hưởng ưu đãi, không cần điều kiện nhập khẩu trực tiếp từ UAE. Nghị định có hiệu lực kể từ ngày ký (05/5/2026) đến hết ngày 31/12/2027, nhưng có quy định hồi tố quan trọng: các tờ khai hải quan đăng ký từ ngày 03/02/2026 (ngày Hiệp định CEPA có hiệu lực) đến trước ngày nghị định có hiệu lực, nếu đủ điều kiện hưởng ưu đãi nhưng đã nộp thuế theo mức cao hơn, sẽ được cơ quan hải quan xử lý hoàn trả phần nộp thừa. Doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa từ UAE nên rà soát các tờ khai hải quan trong giai đoạn này để yêu cầu hoàn thuế nếu đủ điều kiện.
Nghị quyết 25/2026/NQ-CP: Kéo dài áp dụng thuế nhập khẩu ưu đãi 0% đối với xăng dầu và nguyên liệu sản xuất xăng dầu đến 30/6/2026
Resolution 25/2026/NQ-CP: Extension of Preferential 0% Import Duty on Petroleum Products and Refinery Feedstocks to 30 June 2026
Chính phủ ban hành Nghị quyết 25/2026/NQ-CP ngày 30/4/2026, có hiệu lực từ ngày 01/5/2026 đến hết ngày 30/6/2026, kéo dài thời hạn áp dụng của Nghị định 72/2026/NĐ-CP (ngày 09/3/2026) về mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi giảm đối với xăng, dầu và một số nguyên liệu sản xuất xăng dầu. Cụ thể, thuế suất nhập khẩu ưu đãi (MFN) đối với các mặt hàng: dầu thô đã tách phần nhẹ (HS 2710.19.20), dầu trung khác và chế phẩm (HS 2710.19.89), và loại khác thuộc khí hóa lỏng (HS 2711.19.00) được giữ ở mức **0%** đến hết ngày 30/6/2026. Từ ngày 01/7/2026, các mức thuế suất này sẽ trở về mức quy định tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Nghị định 26/2023/NĐ-CP.
Thông tư 33/2026/TT-BTC: Quy định về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Circular 33/2026/TT-BTC: Regulations on Financial Regime of Vietnam Deposit Insurance
Thông tư 33/2026/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 30/03/2026, có hiệu lực từ ngày 01/05/2026, quy định về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV). Văn bản này thiết lập khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động tài chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, bao gồm nguồn thu, chi phí, quản lý quỹ, hạch toán kế toán và báo cáo tài chính. Văn bản này chủ yếu áp dụng cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và các tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm tiền gửi. Đối với doanh nghiệp SME, Thông tư này có tác động gián tiếp thông qua việc ảnh hưởng đến hệ thống tài chính và ngân hàng mà doanh nghiệp giao dịch. Khi hệ thống bảo hiểm tiền gửi hoạt động hiệu quả và minh bạch, nó tạo niềm tin cho người gửi tiền và đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, từ đó ổn định môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp không cần thực hiện thủ tục tuân thủ trực tiếp liên quan đến Thông tư này, vì nó điều chỉnh hoạt động nội bộ của DIV. Tuy nhiên, việc hiểu rõ cơ chế bảo hiểm tiền gửi giúp doanh nghiệp đánh giá rủi ro khi lựa chọn ngân hàng để gửi tiền và quản lý dòng tiền của mình an toàn hơn.
Văn bản hợp nhất số 18/VBHN-BCT: Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA)
Consolidated Document No. 18/VBHN-BCT: Rules of Origin under the ASEAN-Korea Free Trade Agreement (AKFTA)
Văn bản hợp nhất số 18/VBHN-BCT do Bộ Công Thương ban hành gộp Thông tư số 49/2025/TT-BCT (ngày 09/9/2025) và các sửa đổi tại Thông tư số 12/2026/TT-BCT (ngày 09/3/2026) thành một bản quy định thống nhất về Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA). Văn bản có hiệu lực từ ngày 01/5/2026 và áp dụng cho các cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), thương nhân xuất nhập khẩu, và mọi tổ chức, cá nhân liên quan đến xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu với Hàn Quốc. Nội dung cốt lõi quy định ba cách để hàng hóa được công nhận có xuất xứ AKFTA và hưởng ưu đãi thuế quan: (1) xuất xứ thuần túy (trồng trọt, chăn nuôi, khai thác toàn bộ tại một nước thành viên); (2) đạt hàm lượng giá trị khu vực (RVC) tối thiểu 40% tính theo giá FOB, hoặc chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp 4 số (CTH); hoặc (3) đáp ứng Quy tắc cụ thể mặt hàng theo từng mã HS tại Phụ lục I. Văn bản cũng quy định ngưỡng de minimis 10% cho nguyên liệu không đạt tiêu chí CTH, quy tắc cộng gộp xuất xứ giữa các nước ASEAN và Hàn Quốc, cùng danh sách các công đoạn gia công đơn giản (đóng gói, dán nhãn, lắp ráp đơn giản...) không đủ để tạo xuất xứ mới. Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, phần quan trọng nhất là quy trình xin cấp, kiểm tra và sử dụng C/O mẫu AK: cơ quan cấp C/O tại Việt Nam là Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; C/O phải nộp cho hải quan nước nhập khẩu trong vòng 12 tháng kể từ ngày cấp; được miễn nộp C/O nếu lô hàng có giá trị FOB không vượt 200 USD; và có thể bị hải quan nước nhập khẩu yêu cầu kiểm tra sau khi cấp trong vòng 6 tháng nếu nghi ngờ về tính xác thực. Doanh nghiệp xuất khẩu sang Hàn Quốc theo diện ưu đãi AKFTA cần rà soát lại hồ sơ xuất xứ và quy trình xin C/O mẫu AK theo văn bản hợp nhất này kể từ ngày 01/5/2026.
Thông tư 12/2026/TT-BCT bãi bỏ 22 văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền Bộ Công Thương
Circular 12/2026/TT-BCT Abolishing 22 Legal Normative Documents under Ministry of Industry and Trade Authority
Thông tư số 12/2026/TT-BCT ngày 09/03/2026 của Bộ Công Thương (hiệu lực từ 01/05/2026) bãi bỏ toàn bộ 22 văn bản và bãi bỏ một phần 5 văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực điện lực, than, hóa chất, an toàn thực phẩm và xuất xứ hàng hóa. Các văn bản bị bãi bỏ toàn bộ bao gồm các quy định cũ về kiểm kê than tồn kho, điều kiện kinh doanh than, kiểm định thiết bị điện, cấp phép hoạt động điện lực, quy định hợp đồng mua bán điện sinh hoạt và các thông tư liên tịch về chức năng tổ chức ngành và xử lý vi phạm liên ngành. Các văn bản bị bãi bỏ một phần chủ yếu liên quan đến điều chỉnh phân quyền cấp giấy chứng nhận xuất xứ và quy tắc xuất xứ theo các FTA. Việc bãi bỏ này nằm trong chương trình rà soát, hệ thống hóa pháp luật theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15, nhằm cắt giảm thủ tục hành chính và cập nhật khung pháp lý phù hợp với tổ chức bộ máy mới.
Nghị quyết 18/2026/NQ-CP: Cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Resolution 18/2026/NQ-CP: Cutting, Decentralizing and Simplifying Administrative Procedures under the Ministry of Culture, Sports and Tourism
Ngày 29/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết 18/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Nghị quyết chuyển nhiều thủ tục từ Bộ xuống cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ví dụ như cấp giấy chứng nhận tổ chức giám định quyền tác giả, chấp thuận biểu diễn nghệ thuật quốc tế, sửa đổi và gia hạn giấy phép mạng xã hội và trò chơi điện tử, xác nhận đăng ký hoạt động in, cấp lại giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm. Đồng thời, Nghị quyết bãi bỏ một loạt thủ tục không còn cần thiết như cấp lại giấy phép kênh phát thanh truyền hình, thông báo thông tin liên hệ của tổ chức quảng cáo hoặc cung cấp thông tin xuyên biên giới nước ngoài tại Việt Nam, thông báo tài khoản mạng xã hội của cơ quan báo chí, và đơn giản hóa điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 29/4/2026 đến hết ngày 01/3/2027, riêng phần phân cấp tại Phụ lục I có hiệu lực từ ngày 01/6/2026. Đây là văn bản cải cách hành chính thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và truyền thông, không có nội dung liên quan đến thuế GTGT, thuế TNDN, hóa đơn điện tử, chuẩn mực kế toán, lao động hay hải quan. Vì vậy nội dung này nằm ngoài phạm vi trọng tâm của RegHub và được đánh dấu không phù hợp để đăng tải trên nền tảng.
Thông tư 22/2026/TT-BCT: Quy định về xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của Bộ Công Thương
Circular 22/2026/TT-BCT: MOIT Rules for Developing and Applying National Standards and Technical Regulations
Thông tư 22/2026/TT-BCT do Bộ Công Thương ban hành ngày 29/4/2026, có hiệu lực cùng ngày, quy định quy trình nội bộ để lập kế hoạch, soạn thảo, thẩm định, công bố hoặc ban hành tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) thuộc lĩnh vực do Bộ Công Thương quản lý. Văn bản căn cứ Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (sửa đổi năm 2018 và 2025) và Nghị định số 22/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật này. Về bản chất, đây là văn bản phân công trách nhiệm giữa các đơn vị trong Bộ Công Thương - đặc biệt là Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (đầu mối quản lý hệ thống TCVN, QCVN) và Vụ Pháp chế (thẩm định dự thảo Thông tư ban hành QCVN) - chứ không đặt ra nghĩa vụ tuân thủ mới, trực tiếp cho doanh nghiệp. Thông tư quy định thời hạn lập kế hoạch xây dựng TCVN/QCVN theo chu kỳ 5 năm và hằng năm, trình tự thẩm định qua Hội đồng thẩm định, việc lấy ý kiến Bộ Khoa học và Công nghệ, và thủ tục sửa đổi, bãi bỏ, đính chính các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành. Doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc lĩnh vực Bộ Công Thương quản lý (điện, hóa chất, vật liệu công nghiệp...) không cần hành động gì theo thông tư này, nhưng có thể theo dõi Kế hoạch xây dựng QCVN hằng năm được công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và Cổng thông tin điện tử của Bộ để nắm trước các quy chuẩn kỹ thuật mới có thể yêu cầu chứng nhận hợp quy trong tương lai. Thông tư thay thế Thông tư số 46/2014/TT-BCT ngày 03/12/2014.
Thông tư 21/2026/TT-BCT: Bãi bỏ quy định về dầu hỏa trong kinh doanh xăng dầu
Circular 21/2026/TT-BCT: Revocation of Kerosene Provisions in Petroleum Retail Regulations
Bộ Công Thương ban hành Thông tư 21/2026/TT-BCT ngày 28/4/2026, có hiệu lực ngay từ ngày 29/4/2026, bãi bỏ cụm từ "dầu hỏa" tại khoản 2 Điều 1 của Thông tư 18/2025/TT-BCT về kinh doanh xăng dầu. Việc bãi bỏ này được thực hiện theo Kết luận số 14-KL/TW ngày 20/3/2026 của Bộ Chính trị về bảo đảm nguồn cung và ổn định giá nhiên liệu. Sự thay đổi có nghĩa là dầu hỏa không còn thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định sửa đổi tại Thông tư 18/2025. Đây là văn bản kỹ thuật pháp lý liên quan đến ngành kinh doanh xăng dầu, có thể ảnh hưởng đến các doanh nghiệp phân phối và kinh doanh xăng dầu nhưng không trực tiếp liên quan đến thuế hay kế toán doanh nghiệp thông thường.
Lệnh số 01/2026/L-CTN công bố Luật Tiếp cận thông tin
Presidential Order 01/2026/L-CTN Promulgating the Law on Access to Information
Chủ tịch nước Tô Lâm ký Lệnh số 01/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 để chính thức công bố Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16, đã được Quốc hội khóa XVI Kỳ họp thứ nhất thông qua ngày 23/4/2026. Đây là văn bản hành chính ban hành kèm theo Luật, nội dung thực chất nằm trong Luật Tiếp cận thông tin. Văn bản này là lệnh công bố thuần túy, không có nội dung pháp lý thực chất về thuế hoặc tài chính doanh nghiệp.


