Từ ngày 1/7/2026, bốn nghị định mới triển khai khung thuế sửa đổi của Việt Nam đồng thời có hiệu lực: Nghị định 252/2026/NĐ-CP về quản lý thuế, Nghị định 253/2026/NĐ-CP về thuế thu nhập cá nhân (TNCN), Nghị định 254/2026/NĐ-CP về hóa đơn và chứng từ điện tử, và Nghị định 255/2026/NĐ-CP về giá chuyển nhượng. Bốn nghị định được Chính phủ ban hành ngày 30/6/2026 và được thiết kế để vận hành cùng nhau chứ không phải là các mảng tuân thủ riêng lẻ, do đó một thay đổi ở lĩnh vực này, ví dụ đăng ký thuế, có thể tác động trực tiếp đến nghĩa vụ ở lĩnh vực khác như xuất hóa đơn hay tính lương. Nghị định 252 thiết lập nền tảng hành chính bằng cách hợp nhất năm nghị định quản lý thuế trước đây, chuẩn hóa thời hạn đăng ký, sửa đổi quy định tạm hoãn xuất cảnh đối với người nợ thuế, và bổ sung biện pháp bảo vệ người nộp thuế khi hệ thống điện tử gặp sự cố. Nghị định 253 cập nhật hướng dẫn TNCN dành cho người sử dụng lao động và bộ phận nhân sự - tiền lương, bao gồm các khoản lợi ích chịu thuế, xác định cư trú, các khoản giảm trừ, khấu trừ thuế và quyết toán thuế, đặc biệt liên quan đến doanh nghiệp có lao động là người nước ngoài. Nghị định 254 siết chặt quy định về phát hành, điều chỉnh hóa đơn điện tử và truyền dữ liệu, doanh nghiệp cần rà soát lại hệ thống ERP và phần mềm hóa đơn của mình. Nghị định 255 thay thế chế độ giá chuyển nhượng trước đây, cập nhật quy định về xác định quan hệ liên kết, hồ sơ, phân tích so sánh và ngưỡng công bố thông tin dành cho các tập đoàn đa quốc gia. Vì cơ quan thuế hiện có thể đối chiếu dữ liệu đăng ký, hóa đơn điện tử và hồ sơ giá chuyển nhượng, doanh nghiệp vừa và nhỏ, người sử dụng lao động và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nên phối hợp các bộ phận tài chính, thuế, tiền lương, nhân sự, pháp chế và công nghệ thông tin thay vì cập nhật từng lĩnh vực riêng lẻ, nhằm tránh kê khai không nhất quán và rủi ro tuân thủ.
Ngày 15/5/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 23/2026/QĐ-TTg, thay thế Danh mục ban hành theo Quyết định 38/2020/QĐ-TTg trước đây. Quyết định mới đưa ra hai danh mục: 70 công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và 100 sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển. Các danh mục bao trùm nhiều lĩnh vực như công nghệ số (AI, điện toán đám mây, blockchain, 5G/6G, bán dẫn), sản xuất tiên tiến (robot, máy CNC, in 3D), năng lượng tái tạo và lưu trữ năng lượng, hàng không - vũ trụ và giao thông (vệ tinh, thiết bị bay không người lái, đường sắt tốc độ cao), công nghệ sinh học và dược phẩm (chỉnh sửa gen, vắc xin, sinh phẩm), và vật liệu tiên tiến. Đối với doanh nghiệp, hai danh mục này có ý nghĩa quan trọng vì đây là căn cứ để công nhận công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao theo quy định. Doanh nghiệp có kế hoạch đầu tư vào các lĩnh vực này, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp sản xuất, công nghệ quy mô lớn, nên kiểm tra xem công nghệ hoặc sản phẩm của mình có nằm trong danh mục mới hay không trước khi xin cấp giấy chứng nhận công nghệ cao. Quyết định có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Các tổ chức đã được cấp giấy chứng nhận theo danh mục cũ năm 2020 vẫn tiếp tục được áp dụng cho đến hết thời hạn ghi trên giấy chứng nhận; các hồ sơ nộp mới sau ngày hiệu lực phải căn cứ theo danh mục 2026. Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ định kỳ rà soát và cập nhật danh mục trong thời gian tới.
Việt Nam đã ban hành Nghị định 252/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2026, sửa đổi quy định về tạm hoãn xuất cảnh đối với người nộp thuế có nợ thuế quá hạn. Nghị định này rút ngắn thời gian gỡ bỏ lệnh tạm hoãn xuất cảnh sau khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ, đồng thời quy định rõ ràng hơn các ngưỡng tiền tệ để áp dụng biện pháp này. Theo quy định mới, cá nhân và chủ hộ kinh doanh chỉ bị tạm hoãn xuất cảnh khi nợ thuế từ 50 triệu đồng trở lên và quá hạn từ 120 ngày trở lên. Đối với doanh nghiệp đang bị cưỡng chế thuế, ngưỡng áp dụng là 500 triệu đồng, và biện pháp này nay còn áp dụng cho cả chủ sở hữu hưởng lợi và người đại diện theo pháp luật, chứ không chỉ riêng doanh nghiệp. Cơ quan thuế phải thông báo điện tử trước ít nhất 30 ngày trước khi áp dụng tạm hoãn xuất cảnh, và khi người nộp thuế giảm nợ xuống dưới các ngưỡng này, hoặc nộp chứng từ nộp thuế điện tử, cơ quan thuế có thể gỡ bỏ biện pháp ngay lập tức thay vì trong thời hạn 24 giờ làm việc như trước đây. Đối với chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa, kế toán viên và nhà đầu tư nước ngoài, điều cần lưu ý là theo dõi sát nợ thuế còn tồn đọng, đặc biệt trước khi đi công tác nước ngoài, và lưu giữ chứng từ nộp thuế phòng trường hợp giao dịch chuyển khoản chưa được cập nhật trên hệ thống thuế. Doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký cũng được gia hạn 120 ngày để khôi phục mã số thuế hoặc hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế trước khi bị áp dụng hạn chế xuất cảnh. Người đại diện theo pháp luật và chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần đặc biệt lưu ý, vì biện pháp tạm hoãn xuất cảnh nay áp dụng trực tiếp đối với họ khi doanh nghiệp bị cưỡng chế thuế.
Nghị định 292/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 22/7/2026 và đăng Công báo số 456 ngày 03/8/2026, quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý ngoại thương. Đây là văn bản khung bao trùm toàn bộ hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh hàng hóa, gia công hàng hóa có yếu tố nước ngoài và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài. Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, nghị định làm rõ: thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư nước ngoài được tự do kinh doanh xuất nhập khẩu, trừ hàng hóa thuộc danh mục cấm hoặc tạm ngừng; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIE) chỉ được xuất nhập khẩu phục vụ đúng mục tiêu dự án đầu tư và không được kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu (chỉ được thực hiện dưới hình thức hàng đi thẳng, không qua cửa khẩu Việt Nam). Nghị định quy định cụ thể hồ sơ, quy trình, thời hạn cấp phép, thường 2-5 ngày làm việc, cho các loại giấy phép: xuất nhập khẩu hàng cấm trong trường hợp đặc biệt, hàng tạm ngừng xuất nhập khẩu, kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, cùng thời hạn lưu giữ hàng hóa tạm nhập tại Việt Nam, tối đa 60 ngày, gia hạn không quá 2 lần. Nghị định cũng quy định chi tiết về Giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) cho hàng xuất khẩu và nhập khẩu, gồm cơ quan cấp, hồ sơ, thời hạn xử lý và hiệu lực 5 năm với CFS xuất khẩu. Ngoài ra, nghị định thiết lập cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành để giải quyết tranh chấp quốc tế về áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương, ví dụ khi Chính phủ nước ngoài khởi kiện Việt Nam tại trọng tài hoặc tòa án quốc tế. Đây là quy định nền tảng mà mọi doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đặc biệt doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, cần nắm để tuân thủ đúng thủ tục cấp phép và tránh vi phạm.
Nghị định số 288/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 21/7/2026 và có hiệu lực ngay từ ngày ký, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 122/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư (đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã). Điểm đáng chú ý nhất là các mức phạt mới gắn với nghĩa vụ kê khai «chủ sở hữu hưởng lợi» của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thành lập trước ngày 01/7/2025 có thể bị phạt tới 100 triệu đồng nếu không bổ sung thông tin chủ sở hữu hưởng lợi khi thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi gần nhất; phạt 30-70 triệu đồng nếu không đăng ký hoặc không thông báo thay đổi thông tin chủ sở hữu hưởng lợi; và phạt 20-30 triệu đồng nếu kê khai thông tin này không đầy đủ khi cơ quan chức năng yêu cầu. Nghị định cũng tăng và phân khung mức phạt theo số ngày chậm đăng ký thay đổi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (từ cảnh cáo cho vi phạm 1-10 ngày đến phạt 50-60 triệu đồng cho vi phạm quá 91 ngày), bổ sung vi phạm về sổ đăng ký thành viên/cổ đông, về lưu trữ tài liệu doanh nghiệp (bao gồm danh sách chủ sở hữu hưởng lợi), và về sổ đăng ký thành viên hợp tác xã. Đồng thời bãi bỏ Điều 49 và một số điểm của Điều 50 trong nghị định gốc. Doanh nghiệp, hợp tác xã và các bên liên quan cần rà soát lại hồ sơ đăng ký, đặc biệt là thông tin chủ sở hữu hưởng lợi, để tránh bị xử phạt theo các mức mới này.
Hai thay đổi quan trọng đối với doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ có hiệu lực trong năm 2026. Nghị định 161/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 15/5/2026, tăng mức lương cơ sở từ 2.340.000 đồng lên 2.530.000 đồng/tháng, áp dụng từ ngày 1/7/2026. Vì mức lương cơ sở là căn cứ tính trần đóng Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT) và Kinh phí công đoàn, cũng như nhiều khoản trợ cấp BHXH, việc tăng lương cơ sở sẽ làm tăng các mức trần này đối với tất cả người sử dụng lao động tại Việt Nam, không chỉ khu vực nhà nước. Song song đó, Nghị quyết 66.16/2026/NQ-CP, Quyết định 1109/QĐ-CT và Công văn 4021/CT-NVT của Bộ Tài chính đã bãi bỏ quy định kê khai thuế thu nhập cá nhân (TNCN) theo tháng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công, thay bằng kê khai theo quý. Kể từ ngày 19/5/2026, hệ thống eTax và HTKK về cơ bản không còn chấp nhận tờ khai TNCN theo tháng đối với thu nhập từ tiền lương. Tổ chức trả thu nhập nay phải kê khai theo quý, thời hạn nộp là ngày cuối cùng của tháng đầu quý sau, hoặc ngày làm việc tiếp theo nếu trùng ngày nghỉ lễ. Đối với quý 2/2026, doanh nghiệp đã nộp tờ khai TNCN tháng 4/2026 thì chỉ đưa số thuế của tháng 5 và tháng 6 vào tờ khai quý để tránh kê khai trùng; tờ khai tháng 4 có sai sót thì phải nộp tờ khai bổ sung riêng, và số thuế TNCN còn thiếu của tháng 4 có thể nộp chậm nhất đến hạn nộp tờ khai quý 2 là ngày 31/7/2026. Doanh nghiệp, kế toán và các đơn vị làm dịch vụ tiền lương cần cập nhật hệ thống tính lương và mức đóng bảo hiểm trước ngày 1/7/2026, đồng thời điều chỉnh lịch kê khai TNCN theo chu kỳ quý mới.
Bản tổng hợp này trình bày các thay đổi pháp lý quan trọng ảnh hưởng đến doanh nghiệp tại Việt Nam trong tháng 6/2026. Luật số 09/2026/QH16 của Quốc hội bãi bỏ ngưỡng doanh thu cố định 500 triệu đồng để miễn thuế thu nhập cá nhân và thuế giá trị gia tăng, thay vào đó Chính phủ sẽ quy định ngưỡng này dựa trên điều kiện kinh tế vĩ mô, có hiệu lực hồi tố từ ngày 1/1/2026 đối với các nội dung PIT, VAT, CIT. Luật cũng bổ sung quy định mới cho phép miễn thuế thu nhập doanh nghiệp gắn với ngưỡng doanh thu sẽ được Chính phủ quy định cụ thể sau. Bên cạnh đó, Nghị định 201/2026/ND-CP giảm thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng, bao gồm các sản phẩm từ bismuth (giảm về 0%) và quặng fluorit hàm lượng cao (từ 10% xuống 5%), có hiệu lực từ ngày 23/7/2026. Về lao động và kế toán, mức lương cơ sở tăng từ 2,34 triệu đồng lên 2,53 triệu đồng mỗi tháng kể từ ngày 1/7/2026, kéo theo mức trần đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và công đoàn phí tăng theo, trong khi việc kê khai thuế thu nhập cá nhân theo tháng được thay bằng kê khai theo quý. Thông tư 58/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính đưa ra chế độ kế toán đơn giản hóa cho doanh nghiệp siêu nhỏ từ ngày 1/7/2026, và Thông tư 08/2026/TT-BNV của Bộ Nội vụ quy định về hợp đồng lao động điện tử, bao gồm yêu cầu lưu trữ dữ liệu 10 năm, cũng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Ngoài ra còn có Thông tư 55/2026/TT-BTC chuẩn hóa các mẫu báo cáo đầu tư (có hiệu lực từ ngày 15/5/2026), yêu cầu doanh nghiệp kích hoạt tài khoản VNeID tổ chức để tránh chậm trễ trong các thủ tục thuế, cấp phép và xuất nhập cảnh, và Thông tư 08/2026/TT-BKHCN siết chặt việc xác thực thông tin thuê bao di động bằng sinh trắc học từ ngày 15/4/2026. Doanh nghiệp nên rà soát quy trình lương, kê khai thuế và tuân thủ pháp luật theo các mốc hiệu lực nêu trên.
Tổng cục Thuế (GDT) vừa xác nhận rằng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIE) đủ điều kiện được hưởng ưu đãi miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trong 3 năm dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới thành lập. Xác nhận này giải quyết tình trạng hướng dẫn không thống nhất giữa các địa phương sau khi Nghị định số 20/2026/NĐ-CP được ban hành, trong đó một số cơ quan thuế, đặc biệt tại TP.HCM, từng loại doanh nghiệp khởi nghiệp có vốn nước ngoài ra khỏi diện được hưởng ưu đãi này. Theo hai Công văn số 3896/CT-CS và 3897/CT-CS ban hành ngày 11/6/2026, GDT thiết lập quan điểm áp dụng thống nhất trên toàn quốc và yêu cầu các cục thuế địa phương thu hồi mọi hướng dẫn trái ngược trước đó. Để được hưởng ưu đãi, doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời hai điều kiện: (1) là doanh nghiệp thực sự mới thành lập, không hình thành từ sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình hoặc có người đại diện pháp luật, thành viên hợp danh, hoặc cá nhân góp vốn cao nhất từng giữ vai trò tương tự tại doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mới giải thể trong vòng 12 tháng; và (2) đáp ứng tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định số 80/2021/NĐ-CP (dựa trên số lao động, doanh thu và vốn theo từng lĩnh vực). Ưu đãi này áp dụng theo cơ chế tự kê khai, tự chịu trách nhiệm: doanh nghiệp tự đánh giá điều kiện, tự tính và kê khai số thuế được miễn trong hồ sơ quyết toán TNDN hàng năm mà không cần cơ quan thuế phê duyệt trước. Cơ quan thuế sẽ kiểm tra lại các tiêu chí này trong các đợt thanh tra, kiểm tra sau đó; nếu phát hiện sai sót hoặc vi phạm quy tắc chống lạm dụng, doanh nghiệp sẽ bị truy thu thuế và xử phạt hồi tố. Do đó, doanh nghiệp FIE nên rà soát ngay tình trạng đủ điều kiện, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ chứng minh (lịch sử thành lập, cơ cấu doanh nghiệp, tiêu chí SME) và tách riêng các khoản thu nhập không thuộc diện miễn thuế (chuyển nhượng vốn, bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, khai thác tài nguyên, hoạt động ngoài lãnh thổ Việt Nam, hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, kinh doanh trò chơi trực tuyến...) để giảm thiểu rủi ro khi bị thanh tra.
Bản tổng hợp quý III/2026 của Acclime Việt Nam nêu các thay đổi quan trọng về nhân sự và tiền lương ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Từ ngày 1/7/2026, lương cơ sở tối thiểu tăng từ 2,34 triệu đồng lên 2,53 triệu đồng mỗi tháng, làm tăng mức trần đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và chi phí lương. Việc kê khai thuế thu nhập cá nhân (TNCN) từ tiền lương đã chuyển từ hàng tháng sang hàng quý kể từ ngày 15/4/2026, tờ khai quý II/2026 (gồm các tháng 4-6) có hạn nộp là 31/7/2026. Nhiều văn bản pháp luật mới cũng có hiệu lực trong giai đoạn này. Thông tư 08/2026/TT-BNV (hiệu lực từ 1/7/2026) triển khai nền tảng hợp đồng lao động điện tử quốc gia, cấp mã định danh cố định cho từng hợp đồng và yêu cầu lưu trữ dữ liệu 10 năm. Luật số 09/2026/QH16 bãi bỏ ngưỡng doanh thu cố định 500 triệu đồng để tính thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh, thay bằng ngưỡng do Chính phủ quy định, áp dụng hồi tố từ ngày 1/1/2026. Nghị định 105/2026/ND-CP (hiệu lực từ 16/5/2026) quy định chi tiết về thời hạn nộp, miễn, giảm và tạm dừng đóng kinh phí công đoàn. Thông tư 32/2026/TT-BTC áp thuế TNCN 0,1% đối với chuyển nhượng tài sản số, còn Thông tư 08/2026/TT-BKHCN siết chặt xác thực danh tính thuê bao di động. Doanh nghiệp cũng cần đăng ký và kích hoạt tài khoản VNeID tổ chức, ngày càng là điều kiện bắt buộc cho các thủ tục thuế, cấp phép, lao động và xuất nhập cảnh, đồng thời theo dõi các hạn báo cáo định kỳ quý III/2026 như nộp bảo hiểm xã hội, báo cáo biến động lao động và tờ khai TNCN quý II. Chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ, kế toán và bộ phận nhân sự - tiền lương nên rà soát ngân sách lương, hệ thống quản lý hợp đồng và cách tính kinh phí công đoàn theo các thay đổi này.
Luật Đầu tư 2025 (số 143/2025/QH15), có hiệu lực từ 1/3/2026, cùng với Nghị định 96/2026/NĐ-CP, cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam trước (xin Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp - ERC) rồi mới xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (IRC) sau, đảo ngược trình tự IRC trước như trước đây. Doanh nghiệp phải hoàn tất thủ tục cấp IRC trong vòng 12 tháng kể từ ngày thành lập và chưa được triển khai dự án đầu tư thực tế cho đến khi có IRC. Trên thực tế, một doanh nghiệp theo cơ chế ERC trước có thể thuê văn phòng, tuyển nhân sự, đăng ký mã số thuế, ký hợp đồng tư vấn và nhận vốn từ công ty mẹ dưới hình thức chuyển tiền chuẩn bị đầu tư, nhưng chưa được phát sinh doanh thu từ dự án, thuê đất, khởi công xây dựng hoặc nhập khẩu máy móc cho đến khi có IRC. Vốn điều lệ vẫn phải được góp đủ trong vòng 90 ngày kể từ ngày cấp ERC, và nghĩa vụ thuế cũng phát sinh từ chính ngày đó, nên doanh nghiệp cần quản lý chặt cả hai mốc thời gian này ngay từ đầu. Vấn đề ngân hàng là rào cản thực tế lớn nhất: các quy định về tài khoản vốn đầu tư trực tiếp (DICA) được xây dựng cho quy trình IRC trước truyền thống và chưa được cập nhật, nên các ngân hàng như VietinBank đang xử lý tài khoản theo cơ chế ERC trước theo từng trường hợp cụ thể, thường hạn chế sử dụng vốn cho đến khi có IRC. Cơ chế này phù hợp nhất với các dự án dịch vụ, ít phụ thuộc hạ tầng và có điều kiện tiếp cận thị trường rõ ràng; các lĩnh vực phụ thuộc đất đai hoặc có điều kiện chặt chẽ (sản xuất, bất động sản, y tế, tài chính) có thể vẫn nên chọn IRC trước để an toàn hơn.
Việc Việt Nam gia nhập Công ước Apostille La Hay dự kiến có hiệu lực từ ngày 11 tháng 9 năm 2026, thay thế quy trình hợp pháp hóa lãnh sự nhiều bước bằng một con dấu Apostille duy nhất cho các giấy tờ công nước ngoài đủ điều kiện. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhà đầu tư nước ngoài, công ty đa quốc gia và người nước ngoài, thay đổi này dự kiến sẽ giảm thời gian, chi phí và độ phức tạp trong việc thành lập doanh nghiệp, cấp phép đầu tư, xin giấy phép lao động và các thủ tục xuyên biên giới khác. Apostille chỉ xác nhận chữ ký, con dấu hoặc dấu triện trên giấy tờ là thật, không xác minh nội dung. Nó áp dụng cho giấy tờ tư pháp, giấy tờ hành chính (như giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn và giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) và văn bản công chứng, nhưng loại trừ giấy tờ do viên chức ngoại giao hoặc lãnh sự lập cùng các chứng từ thương mại và hải quan. Tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2026, có 130 quốc gia là thành viên Công ước cùng với Việt Nam, tuy nhiên Đức và Áo đã phản đối, nên cơ chế Apostille hiện chưa áp dụng giữa Việt Nam và hai quốc gia này. Trước khi sử dụng Apostille, doanh nghiệp nên xác minh Công ước đã có hiệu lực giữa Việt Nam và quốc gia cấp giấy tờ cụ thể, xác nhận giấy tờ đủ điều kiện, và xác định đúng Cơ quan có thẩm quyền cấp Apostille. Các công ty xử lý hồ sơ xuyên biên giới nên tính đến giai đoạn chuyển tiếp trong kế hoạch của mình, vì thủ tục ở cả hai phía vẫn đang được điều chỉnh theo hệ thống mới.
Trong cuối tháng 6 và đầu tháng 7/2026, Bộ Tài chính, Chính phủ và Bộ Công an đã ban hành hàng loạt nghị định, thông tư mới, phần lớn có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Các văn bản này tác động đến hầu hết các khía cạnh tuân thủ thuế hàng ngày: quy định về đăng ký thuế và mã số thuế (Thông tư 90/2026/TT-BTC), cải cách lớn về hóa đơn và chứng từ điện tử (Nghị định 254/2026/ND-CP), định nghĩa mới về kỳ tính thuế (Nghị định 252/2026/ND-CP), hướng dẫn cập nhật về hiệp định tránh đánh thuế hai lần và thủ tục giải quyết tranh chấp chuyển giá (Thông tư 95/2026/TT-BTC), cùng hệ thống phân loại rủi ro thuế mới với 191 tiêu chí (Thông tư 94/2026/TT-BTC) thay thế khung cũ. Đối với chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), một số thay đổi cần được lưu ý ngay. Quy định về hóa đơn điện tử được đơn giản hóa ở một số điểm (được ghi «Bán cho người tiêu dùng» khi không có thông tin định danh người mua) nhưng đồng thời siết chặt giám sát đối với hóa đơn từ máy tính tiền và bãi bỏ hóa đơn giấy do cơ quan thuế phát hành. Mức trần khấu trừ chi phí lãi vay mới, giới hạn 30% EBITDA (Nghị định 255/2026/ND-CP), ảnh hưởng đến các doanh nghiệp có khoản vay bên liên kết, trong khi doanh nghiệp SME có vốn đầu tư nước ngoài nay đủ điều kiện hưởng miễn thuế TNDN 3 năm. Quy định thuế TNCN theo Nghị định 253/2026/ND-CP và Thông tư 87/2026/TT-BTC mở rộng phạm vi thu nhập chịu thuế (tên miền, tín chỉ carbon, tài sản số), nâng một số ngưỡng miễn thuế, và tăng mức thu nhập của người phụ thuộc từ 1 triệu lên 3 triệu đồng/tháng. Doanh nghiệp cũng cần lưu ý việc gia hạn tạm thời thời hạn nộp thuế GTGT, TNDN, TNCN và tiền thuê đất cho 43 ngành nghề đủ điều kiện (Nghị định 245/2026/ND-CP, có hiệu lực đến 30/12/2026), các nghĩa vụ mới đối với sàn thương mại điện tử và yêu cầu đăng ký đối với nền tảng nước ngoài (Nghị định 248/2026/ND-CP), cùng cơ chế cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (ERC) trước dành cho nhà đầu tư nước ngoài. Vì các thay đổi này bao trùm đồng thời việc đăng ký, xuất hóa đơn, chuyển giá và thuế TNCN, doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam nên rà soát lại quy trình nội bộ và hồ sơ chứng từ trước cuối năm.
Bộ Tài chính (qua Thuế cơ sở 2 tỉnh Khánh Hòa) vừa giải đáp thắc mắc của một hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai về cách kê khai doanh thu dưới 1 tỷ đồng trên Mẫu số 01/TKN-CNKD (theo Thông tư 50/2026/TT-BTC). Với câu hỏi doanh thu dưới ngưỡng chịu thuế thì điền vào cột nào, cơ quan thuế không đưa ra hướng dẫn cụ thể vì hộ kinh doanh chưa nêu rõ ngành nghề kinh doanh, và yêu cầu liên hệ trực tiếp cơ quan thuế quản lý để được hướng dẫn theo đúng ngành nghề thực tế. Về câu hỏi thứ hai - Cột 3 «Doanh thu không chịu thuế GTGT» áp dụng cho trường hợp nào - Bộ Tài chính khẳng định chỉ tiêu này áp dụng theo đúng Điều 5 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 (đã được sửa đổi bởi Luật số 149/2025/QH15 và Luật số 09/2026/QH16), tức là chỉ dành cho sản phẩm nông, lâm, thủy sản chưa qua chế biến hoặc chỉ sơ chế thông thường do chính tổ chức, cá nhân sản xuất, đánh bắt bán ra, hoặc ở khâu nhập khẩu - không áp dụng chung cho mọi hộ kinh doanh có doanh thu dưới ngưỡng chịu thuế. Đây là lưu ý quan trọng cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh: doanh thu dưới ngưỡng chịu thuế GTGT (hiện là dưới 1 tỷ đồng) không tự động thuộc diện «không chịu thuế GTGT» theo Cột 3 của tờ khai - đây là hai khái niệm khác nhau. Hộ kinh doanh nên liên hệ cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được hướng dẫn điền đúng chỉ tiêu theo ngành nghề cụ thể, tránh kê khai sai gây rủi ro về sau.
Một doanh nghiệp áp dụng chiết khấu thương mại cuối kỳ theo sản lượng hỏi Bộ Tài chính về cách lập bảng kê kèm hóa đơn chiết khấu, việc ghi số âm giá trị chiết khấu trên hóa đơn, và cách ghi dòng diễn giải. Cơ quan thuế trả lời bằng cách trích dẫn Nghị định 254/2026/NĐ-CP và Thông tư 91/2026/TT-BTC (đều ban hành 30/6/2026, hướng dẫn Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 về hóa đơn điện tử). Theo quy định được trích dẫn, khi doanh nghiệp áp dụng chiết khấu thương mại theo sản lượng, doanh số, số tiền chiết khấu được điều chỉnh trên hóa đơn của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp theo, không vượt quá giá trị hàng hóa trên hóa đơn đó, hoặc được lập hóa đơn điều chỉnh kèm bảng kê ghi rõ số hóa đơn cần điều chỉnh, số tiền và tiền thuế điều chỉnh; bảng kê lưu tại đơn vị, xuất trình khi cơ quan thuế yêu cầu. Đáng chú ý, quy định xác nhận hóa đơn điều chỉnh giảm phải ghi số âm, điều chỉnh tăng ghi số dương, đúng với thực tế điều chỉnh - trả lời trực tiếp câu hỏi của doanh nghiệp về việc ghi số âm. Cơ quan thuế không nêu cụ thể cách ghi dòng diễn giải trên hóa đơn chiết khấu, mà đề nghị doanh nghiệp tự đối chiếu quy định với thực tế phát sinh, hoặc liên hệ Thuế cơ sở 12 TP. Hồ Chí Minh (Tổ quản lý, hỗ trợ doanh nghiệp số 3) nếu còn vướng mắc. Đây là hướng dẫn hữu ích cho các doanh nghiệp có chính sách chiết khấu thương mại theo sản lượng khi lập hóa đơn điện tử theo quy định mới.
Các doanh nghiệp, văn phòng đại diện, chi nhánh, hiệp hội và tổ chức khác đang hoạt động tại Việt Nam nên khẩn trương rà soát xem đã đăng ký và kích hoạt tài khoản định danh điện tử tổ chức (VNeID) hay chưa. Trong bối cảnh chuyển đổi số nhanh của nền hành chính công, tài khoản VNeID tổ chức đã trở thành phương thức xác thực then chốt khi thực hiện thủ tục hành chính và dịch vụ công trực tuyến. Doanh nghiệp chưa đăng ký hoặc kích hoạt tài khoản có thể gặp khó khăn khi truy cập cổng dịch vụ công, nộp hồ sơ, theo dõi tiến độ xử lý hoặc hoàn tất thủ tục điện tử. Tác động rõ nhất rơi vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức bảo lãnh cho người lao động hoặc khách nước ngoài. Vì các dịch vụ công liên quan đến xuất nhập cảnh ngày càng gắn với xác thực điện tử và nộp hồ sơ trực tuyến, việc chưa có tài khoản VNeID tổ chức đang hoạt động có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc xin cấp mới hoặc sửa đổi thị thực, gia hạn tạm trú, cấp hoặc đổi thẻ tạm trú, cũng như các thủ tục bảo lãnh khác cho người nước ngoài. Chậm trễ trong đăng ký VNeID có thể làm gián đoạn việc xử lý hồ sơ xuất nhập cảnh, ảnh hưởng đến cả hoạt động của doanh nghiệp lẫn quyền lợi hợp pháp của người được bảo lãnh. Doanh nghiệp nên coi việc đăng ký và kích hoạt tài khoản VNeID tổ chức là một hành động tuân thủ khẩn cấp, thay vì chờ đến khi có hồ sơ cụ thể cần nộp. Việc chủ động đăng ký sớm giúp tránh các rủi ro về chậm trễ, sự cố truy cập hệ thống và các vướng mắc phát sinh vào phút chót đối với các thủ tục cấp phép, lao động, thuế và các quy trình tuân thủ khác.
Một doanh nghiệp kinh doanh bất động sản từ năm 2003 đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất trước ngày 01/7/2014, tính theo bảng giá đất của UBND cấp tỉnh chứ chưa căn cứ theo các chỉ tiêu quy hoạch chi tiết (hệ số sử dụng đất, mật độ xây dựng, chiều cao công trình). Đến năm 2020, doanh nghiệp điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng của dự án và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, nhưng tại thời điểm đó không bị yêu cầu nộp bổ sung tiền sử dụng đất. Nay doanh nghiệp muốn chuyển nhượng một phần dự án là khu chung cư nên hỏi Bộ Tài chính: liệu trường hợp này có được áp dụng điểm b khoản 3 Điều 2 Thông tư số 76/2014/TT-BTC (không phải nộp bổ sung tiền sử dụng đất khi thay đổi quy hoạch chi tiết) hay không. Bộ Tài chính không trả lời trực tiếp có hay không mà chỉ liệt kê các căn cứ pháp lý liên quan qua từng thời kỳ: khoản 5 Điều 14 Nghị định 45/2014/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 123/2017/NĐ-CP), khoản 3 Điều 10 Thông tư 76/2014/TT-BTC (bổ sung tại Thông tư 10/2018/TT-BTC), điều khoản chuyển tiếp tại Điều 50 Nghị định 103/2024/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 291/2025/NĐ-CP), và quy định về trách nhiệm xác định nghĩa vụ tài chính đất đai của UBND cấp tỉnh tại Điều 44, khoản 6 Điều 48 Nghị định 103/2024/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 50/2026/NĐ-CP). Bộ Tài chính đề nghị doanh nghiệp căn cứ hồ sơ dự án cụ thể, làm việc trực tiếp với cơ quan chức năng của địa phương để được xem xét, xác định đúng quy định trước khi chuyển nhượng. Đây là lưu ý quan trọng cho các chủ đầu tư bất động sản: việc miễn trừ nghĩa vụ nộp bổ sung tiền sử dụng đất khi điều chỉnh quy hoạch không mặc nhiên áp dụng, mà phải được cơ quan địa phương xác nhận theo hồ sơ từng dự án, đặc biệt trước khi thực hiện chuyển nhượng dự án hoặc một phần dự án.
Ngày 30/6/2026, Bộ Công Thương (MOIT) ban hành Thông tư số 35/2026/TT-BCT quy định đặc điểm kinh tế - kỹ thuật dùng để xác định hàng hóa thuộc hai danh mục do Bộ Công Thương quản lý: Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá và Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện kê khai giá. Trên thực tế, thông tư này xác định rõ loại sản phẩm và quy cách cụ thể nào được coi là thuộc hai danh mục nói trên, giúp doanh nghiệp và cơ quan nhà nước áp dụng thống nhất các quy định về quản lý giá. Thông tư áp dụng cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc diện bình ổn giá hoặc kê khai giá trong lĩnh vực công thương, cũng như các cơ quan nhà nước thực thi các quy định này. Nếu doanh nghiệp của bạn kinh doanh hàng hóa có khả năng thuộc danh mục bình ổn giá hoặc kê khai giá của Bộ Công Thương (ví dụ một số loại nhiên liệu, hóa chất, nguyên liệu công nghiệp hoặc hàng hóa được quản lý khác), bạn nên kiểm tra Phụ lục của thông tư để xác định sản phẩm cụ thể của mình có thuộc diện điều chỉnh hay không, vì điều này ảnh hưởng đến nghĩa vụ kê khai giá với cơ quan chức năng. Toàn bộ đặc điểm kỹ thuật chi tiết được quy định tại Phụ lục kèm theo (không được dịch trong nguồn tiếng Anh); doanh nghiệp nên tham khảo bản gốc tiếng Việt hoặc liên hệ Bộ Công Thương để biết danh mục chi tiết. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 17/8/2026. Các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa thuộc diện quản lý nên rà soát việc phân loại sản phẩm trước thời điểm này để xác định có phát sinh nghĩa vụ kê khai giá hay không.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam vừa có văn bản trả lời thắc mắc của độc giả về căn cứ tính đóng BHXH đối với công chức trong thời gian tập sự. Theo điểm a khoản 1 Điều 31 Luật BHXH số 41/2024/QH15, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH đối với người hưởng lương do Nhà nước quy định là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và các khoản phụ cấp liên quan (nếu có). BHXH Việt Nam khẳng định: trong thời gian tập sự, công chức chỉ được cơ quan nhà nước trả 85% mức lương bậc 1 theo ngạch, do đó căn cứ để trích đóng BHXH, cả phần cơ quan đóng và phần 8% người lao động tự trích nộp, đều tính trên mức 85% này, không phải mức 100% của bậc 1. Đây là điểm cần lưu ý đối với bộ phận nhân sự, kế toán tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức có sử dụng lao động theo thang bảng lương nhà nước, để tính đúng số tiền BHXH phải trích nộp trong giai đoạn tập sự, tránh đóng thừa hoặc thiếu.
Một doanh nghiệp đang giải thể hỏi Bộ Tài chính nên tính lãi tiền gửi tiết kiệm dự thu đến thời điểm nào khi lập báo cáo tài chính, trong bối cảnh Thông tư 99/2025/TT-BTC yêu cầu lập BCTC khi doanh nghiệp không còn hoạt động liên tục. Bộ Tài chính (Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán) trả lời rằng BCTC phải được lập tại «thời điểm giải thể» theo quy định của Luật Doanh nghiệp, chứ không phải tại thời điểm công ty ra quyết định giải thể như nhiều doanh nghiệp vẫn hiểu. Doanh nghiệp cần xác định đúng mốc thời gian này theo Luật Doanh nghiệp trước khi lập báo cáo. Về khoản lãi dự thu của tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn, doanh nghiệp áp dụng nguyên tắc kế toán tại Tài khoản 128 (Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn) theo Thông tư 99/2025/TT-BTC, kết hợp với thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng tiền gửi, để ghi nhận lãi phù hợp với thời điểm giải thể đã xác định thay vì một trong ba mốc mà công ty đề xuất.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam vừa trả lời thắc mắc của một người lao động về nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc khi người này vừa chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp (TCTN) để đi làm trở lại trong cùng tháng. Người lao động bắt đầu công việc mới từ giữa tháng, làm việc liên tục đến hết tháng, nhưng doanh nghiệp từ chối đóng BHXH cho tháng đó vì cho rằng người lao động đã được hưởng TCTN trọn tháng theo quyết định hưởng trợ cấp trước đó. Theo trả lời chính thức, căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Luật Việc làm và các văn bản hướng dẫn thi hành, người lao động bắt đầu làm việc và có hưởng tiền lương, làm việc liên tục đến hết tháng thì thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN ngay từ tháng đó. Việc người lao động đồng thời được hưởng trọn tháng TCTN cuối cùng theo quy định về chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp (khoản 4 Điều 19 Nghị định 374/2025/NĐ-CP) không loại trừ nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc phát sinh từ quan hệ lao động thực tế. Cơ quan BHXH cho biết sẽ phối hợp với đơn vị sử dụng lao động rà soát hồ sơ và hướng dẫn truy đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN cho người lao động theo đúng quy định. Nội dung này có ý nghĩa thực tiễn với doanh nghiệp: không được từ chối đóng BHXH cho người lao động mới tuyển chỉ vì lý do người đó đang trong thời gian hưởng TCTN của tháng trước đó, và không cần yêu cầu người lao động hoàn trả tiền TCTN trước khi tham gia BHXH. Doanh nghiệp cần chủ động rà soát, truy đóng đầy đủ để tránh vi phạm nghĩa vụ đóng bảo hiểm bắt buộc theo khoản 5 Điều 32 Luật BHXH.
Cơ quan thuế Việt Nam đang chuyển từ thanh tra ngẫu nhiên, diện rộng sang thanh tra dựa trên rủi ro, sử dụng phân tích dữ liệu số. Trong 6 tháng đầu năm 2026, các cuộc thanh tra, kiểm tra thuế đã kiến nghị truy thu, điều chỉnh và xử phạt hơn 34.000 tỷ đồng, đồng thời cơ quan thuế phân bổ nguồn lực thanh tra dựa trên hồ sơ rủi ro của người nộp thuế thay vì chọn ngẫu nhiên. Xu hướng này không chỉ giới hạn ở lĩnh vực thuế. Tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt chương trình thanh tra chuyên ngành năm 2026 đối với 87 doanh nghiệp và tổ chức, tập trung vào các lĩnh vực điện lực, hiệu quả năng lượng, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp và hoạt động xuất nhập khẩu, với thời kỳ thanh tra tính từ ngày 1/1/2025. Điều này phản ánh xu hướng chung trên cả nước: thanh tra ngày càng có mục tiêu cụ thể, dựa trên dữ liệu và theo từng ngành. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIE), tập đoàn đa quốc gia và các công ty có hoạt động xuyên biên giới phức tạp, điều này đồng nghĩa với việc chất lượng hồ sơ, tính nhất quán giao dịch và dữ liệu thuế điện tử sẽ bị giám sát chặt chẽ hơn. Cơ quan chức năng ngày càng đối chiếu dữ liệu hóa đơn điện tử, tờ khai hải quan và báo cáo tài chính. Doanh nghiệp nên chủ động rà soát hồ sơ tuân thủ thuế, thực hiện kiểm tra tuân thủ nội bộ định kỳ, đảm bảo tính nhất quán giữa sổ sách kế toán, hồ sơ hải quan và tờ khai thuế, đồng thời rà soát lại giao dịch liên kết và hồ sơ giá chuyển nhượng trước khi nhận được thông báo thanh tra.
Cổng thông tin Dự thảo Online của Quốc hội đã đăng tải mục dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), do Chính phủ trình. Theo thông tin được công bố, dự thảo dự kiến được Quốc hội khóa XVI xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ 2. Nội dung thu thập được tại nguồn này chỉ gồm tiêu đề và các thông tin thủ tục (cơ quan trình, kỳ họp dự kiến thông qua), chưa có toàn văn hoặc các điều khoản cụ thể của dự thảo. Do đó, chưa thể đánh giá chi tiết những thay đổi cụ thể sẽ ảnh hưởng thế nào đến quyền sử dụng đất, chi phí thuê đất, hay nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp và nhà đầu tư. Khi Luật Đất đai (sửa đổi) được Quốc hội thông qua và toàn văn được công bố, đây sẽ là một đạo luật có tác động lớn đến hoạt động đầu tư và sử dụng đất của doanh nghiệp trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài, cần được theo dõi và cập nhật lại khi có nội dung đầy đủ hơn.