Kho kiến thức
Bài giải thích của RegHub về văn bản chính thức về thuế, kế toán và hóa đơn, viết bằng ngôn ngữ dễ hiểu.
Phạm vi áp dụng Công văn số 5680/CT-CS về miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ hợp đồng thuê khoán chuyên môn khoa học công nghệ
Scope of Official Letter No. 5680/CT-CS on PIT Exemption for Professional Service Income from Science and Technology Contracts
Cục Thuế TP.HCM trả lời câu hỏi về phạm vi áp dụng Công văn số 5680/CT-CS liên quan đến miễn thuế TNCN cho cá nhân tham gia hợp đồng thuê khoán chuyên môn trong các nhiệm vụ khoa học công nghệ được ngân sách nhà nước tài trợ. Theo Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15 (hiệu lực từ ngày 01/7/2026), thu nhập từ tiền lương, tiền công thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được miễn thuế. Từ năm 2026, người nộp thuế phát sinh thu nhập từ tiền lương, tiền công từ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ phải thực hiện theo Điều 4 Luật này và các văn bản pháp quy có liên quan.
Văn bản hợp nhất số 40/VBHN-VPQH: Luật Bảo hiểm y tế (hợp nhất đến năm 2026)
Consolidated Document No. 40/VBHN-VPQH: Health Insurance Law (Consolidated Through 2026)
Đây là bản hợp nhất chính thức của Luật Bảo hiểm y tế (Luật số 25/2008/QH12), cập nhật toàn bộ các lần sửa đổi, bổ sung qua nhiều năm, gần nhất là Luật số 51/2024/QH15 (hiệu lực từ 01/7/2025) và Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/7/2026). Văn bản này không tạo ra quy định hoàn toàn mới, nhưng gộp tất cả thay đổi thành một bản luật đầy đủ, giúp doanh nghiệp và người lao động dễ tra cứu nghĩa vụ hiện hành thay vì phải đối chiếu nhiều luật sửa đổi rời rạc. Đối với doanh nghiệp, nội dung quan trọng nhất nằm ở Điều 12 và Điều 13: xác định rõ những ai bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế (lao động ký hợp đồng từ đủ 01 tháng, lao động nước ngoài làm việc từ đủ 12 tháng, chủ hộ kinh doanh có đăng ký, quản lý doanh nghiệp không hưởng lương...), và mức đóng hằng tháng tối đa 6% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội. Với lao động hợp đồng, người sử dụng lao động chịu hai phần ba, người lao động chịu một phần ba; chủ hộ kinh doanh và quản lý doanh nghiệp không hưởng lương tự đóng toàn bộ. Luật cũng nêu rõ thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, cùng các hành vi bị nghiêm cấm như chậm đóng, trốn đóng, gian lận hồ sơ bảo hiểm y tế. Doanh nghiệp nên dùng bản hợp nhất này làm tài liệu tham chiếu chính thức. Các mốc hiệu lực cần lưu ý: quy định về cấp chuyên môn kỹ thuật khám chữa bệnh, đăng ký khám chữa bệnh ban đầu có hiệu lực từ 01/01/2025; hầu hết nội dung sửa đổi theo Luật số 51/2024/QH15 có hiệu lực từ 01/7/2025; và các điều chỉnh theo Luật Phòng bệnh có hiệu lực từ 01/7/2026 - đúng thời điểm hiện tại.
Thông tư 83/2025/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Circular 83/2025/TT-NHNN on the Internal Control System of Commercial Banks and Foreign Bank Branches
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư 83/2025/TT-NHNN (ký ngày 31/12/2025), quy định toàn diện về hệ thống kiểm soát nội bộ áp dụng cho các ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Văn bản yêu cầu mỗi ngân hàng xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ theo mô hình «ba tuyến bảo vệ» độc lập: tuyến thứ nhất là các bộ phận kinh doanh trực tiếp tạo ra rủi ro, tuyến thứ hai là bộ phận tuân thủ và quản lý rủi ro toàn hàng, tuyến thứ ba là kiểm toán nội bộ. Thông tư quy định chi tiết việc quản lý các loại rủi ro trọng yếu (tín dụng, thị trường, hoạt động, thanh khoản, tập trung, lãi suất trên sổ ngân hàng, rủi ro mô hình), yêu cầu đánh giá nội bộ về mức đủ vốn (ICAAP), kiểm tra sức chịu đựng, và nghĩa vụ báo cáo định kỳ hằng năm cho Ngân hàng Nhà nước về kết quả kiểm soát, quản lý rủi ro và kiểm toán nội bộ, với thời hạn gửi báo cáo từ 60 đến 90 ngày sau khi kết thúc năm tài chính. Đây là văn bản quản lý nội bộ chuyên ngành ngân hàng, đặt ra nghĩa vụ trực tiếp cho ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài chứ không tạo ra nghĩa vụ tuân thủ mới cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh, cá nhân hay nhà đầu tư nước ngoài nói chung. Chủ doanh nghiệp và kế toán viên không cần thực hiện hành động gì theo Thông tư này; tác động (nếu có) chỉ mang tính gián tiếp thông qua việc ngân hàng thẩm định tín dụng chặt chẽ hơn.
Quyết định 1119/QĐ-TTg: Sửa đổi, bổ sung Chiến lược tài chính đến năm 2030
Decision 1119/QD-TTg: Amendments to the National Financial Strategy to 2030
Ngày 23/6/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1119/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Chiến lược tài chính đến năm 2030 (ban hành kèm Quyết định 368/QĐ-TTg ngày 21/3/2022). Việc sửa đổi nhằm cập nhật các mục tiêu tài chính - ngân sách quốc gia cho phù hợp với mục tiêu tăng trưởng GDP «2 con số» (từ 10%/năm trở lên) trong giai đoạn 2026 - 2030, gắn với các nghị quyết mới của Quốc hội và Bộ Chính trị về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và kinh tế tư nhân. Quyết định cập nhật hàng loạt chỉ tiêu: tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước tăng lên khoảng 18% GDP giai đoạn 2026 - 2030 (từ thuế, phí khoảng 14 - 15% GDP); cơ cấu lại chi ngân sách theo hướng tăng mạnh tỷ trọng chi đầu tư phát triển lên khoảng 40%, giảm chi thường xuyên xuống còn 51 - 52%; nới trần bội chi ngân sách lên khoảng 5% GDP vào năm 2030 nhưng vẫn giữ trần nợ công không quá 60% GDP. Quyết định cũng bổ sung nhóm giải pháp về hoàn thiện thể chế, xóa rào cản đầu tư kinh doanh, đặt mục tiêu môi trường đầu tư Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN vào năm 2028, đồng thời tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và đổi mới cơ chế tài chính cho đơn vị sự nghiệp công lập. Đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài, điểm đáng chú ý là định hướng chuyển chính sách thu hút FDI từ trọng tâm ưu đãi thuế sang các hình thức ưu đãi khác, áp dụng «ưu đãi sau - ưu đãi theo kết quả», cùng cam kết xây dựng hệ thống thuế hiện đại, minh bạch và không ban hành ưu đãi thuế địa phương vượt quy định pháp luật thuế hiện hành. Đây là văn bản định hướng chiến lược tầm vĩ mô, không đặt ra nghĩa vụ tuân thủ cụ thể ngay lập tức cho doanh nghiệp, nhưng là tín hiệu chính sách quan trọng mà kế toán, chủ doanh nghiệp SME và nhà đầu tư nước ngoài nên theo dõi vì sẽ được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật thuế, đầu tư trong thời gian tới. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành (23/6/2026).
Nghị định 145/2026/NĐ-CP quy định cơ chế quản lý tài chính, đánh giá, xếp loại doanh nghiệp đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam
Decree 145/2026/ND-CP on Financial Management and Enterprise Classification for the Vietnam Stock Exchange and the Vietnam Securities Depository and Clearing Corporation
Nghị định 145/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 22/6/2026, quy định cơ chế quản lý tài chính và đánh giá, xếp loại doanh nghiệp áp dụng riêng cho Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX) và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) - hai đơn vị hạ tầng thị trường chứng khoán do Bộ Tài chính làm đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước. Nghị định thay thế Nghị định số 59/2021/NĐ-CP. Nội dung chính gồm quy định về hoạt động đầu tư (VNX và VSDC phải xác định, kiểm soát xung đột lợi ích trước khi đầu tư); danh mục chi tiết các nguồn doanh thu của từng đơn vị (phí thành viên, phí tổ chức thị trường, phí lưu ký, phí bù trừ - thanh toán, dịch vụ hạ tầng công nghệ...); các khoản chi phí đặc thù được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, như khoản trích lập Quỹ phòng ngừa rủi ro nghiệp vụ của VSDC; và các yếu tố khách quan được loại trừ khi đánh giá, xếp loại hiệu quả hoạt động của hai doanh nghiệp. Vì đối tượng áp dụng chỉ giới hạn ở VNX, VSDC, các công ty con do hai đơn vị này nắm giữ 100% vốn và Bộ Tài chính với vai trò chủ sở hữu, nghị định này không tạo ra nghĩa vụ tuân thủ mới cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, kế toán viên hay nhà đầu tư nước ngoài nói chung. Đây là văn bản mang tính quản trị tài chính nội bộ ngành hạ tầng chứng khoán hơn là quy định tác động trực tiếp đến cộng đồng doanh nghiệp.
Thông tư 07/2026/TT-NHNN sửa đổi quy định về hoạt động môi giới tiền tệ của ngân hàng thương mại
Circular 07/2026/TT-NHNN Amending Regulations on Monetary Brokerage Activities of Commercial Banks
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư 07/2026/TT-NHNN ngày 06/5/2026, sửa đổi Thông tư 17/2016/TT-NHNN về hoạt động môi giới tiền tệ của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư có hiệu lực từ ngày 20/6/2026. Điểm sửa đổi chính là tại khoản 1 Điều 4: ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải ban hành quy định nội bộ về môi giới tiền tệ bao gồm tối thiểu quy trình thực hiện, phạm vi trách nhiệm/quyền hạn của người liên quan, và quản lý rủi ro. Trong vòng 10 ngày kể từ khi ban hành hoặc sửa đổi quy định nội bộ này, ngân hàng phải gửi bản sao cho NHNN (Cục Quản lý, giám sát TCTD hoặc NHNN chi nhánh Khu vực). Điều 11 về tổ chức thực hiện cũng được sửa đổi, xác định rõ trách nhiệm giám sát, thanh tra của Thanh tra NHNN và Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng, đồng thời xác định trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị liên quan.
Nghị định 144/2026/NĐ-CP: Sửa đổi quy định chi tiết Luật Thuế GTGT - bổ sung đối tượng miễn thuế, sửa quy định khấu trừ thuế đầu vào và Danh mục khoáng sản xuất khẩu
Decree 144/2026/ND-CP Amends VAT Law Implementing Regulations - New VAT Exemptions, Revised Input Credit Rules, Updated List of Exported Minerals
Nghị định 144/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 05/5/2026, có hiệu lực từ 20/6/2026, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT). Nghị định mở rộng danh mục hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT, bổ sung thêm nhiều loại bảo hiểm như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, bảo hiểm vật nuôi, cây trồng, bảo hiểm tàu thuyền phục vụ đánh bắt thủy sản, tái bảo hiểm và bảo hiểm cho công trình, thiết bị dầu khí do nhà thầu nước ngoài thuê hoạt động tại vùng biển Việt Nam. Đồng thời làm rõ hoạt động «bán nợ» bao gồm cả bán khoản phải trả, khoản phải thu và bán chứng chỉ tiền gửi. Về khấu trừ thuế GTGT đầu vào, nghị định quy định rõ hơn với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp từ 5 triệu đồng trở lên: doanh nghiệp vẫn được khấu trừ thuế ngay cả khi chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (do chưa đến hạn thanh toán theo hợp đồng), nhưng đến hạn mà vẫn chưa có chứng từ thì phải kê khai điều chỉnh giảm số thuế đã khấu trừ; sau đó nếu có chứng từ hợp lệ thì được khấu trừ lại. Đáng chú ý nhất, nghị định thay thế toàn bộ Danh mục hàng hóa xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản (Phụ lục I - chưa chế biến, Phụ lục II - đã chế biến) làm căn cứ áp dụng chính sách thuế xuất khẩu theo định hướng hạn chế xuất khẩu tài nguyên khoáng sản thô. Doanh nghiệp xuất khẩu khoáng sản, kim loại (sắt, đồng, nhôm, thiếc, kẽm, đá quý, vàng bạc...) cần rà soát mã HS hàng hóa của mình theo danh mục mới để xác định đúng nghĩa vụ thuế xuất khẩu.
Thông tư 37/2026/TT-BCA: Sửa đổi quy định về đăng ký, kiểm định phương tiện giao thông
Circular 37/2026/TT-BCA: Amending Regulations on Vehicle Registration and Technical Inspection
Ngày 24/4/2026, Bộ Công an ban hành Thông tư 37/2026/TT-BCA sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư quy định về đăng ký và kiểm định phương tiện giao thông (đường bộ và đường thủy nội địa). Nội dung chính bao gồm cập nhật mẫu chứng nhận kiểm định, bổ sung quy định về đăng ký biến động và điều chỉnh thủ tục hành chính liên quan đến kiểm định xe. Thông tư có hiệu lực từ ngày 08/6/2026. Sổ kiểm định cấp trước ngày Thông tư có hiệu lực vẫn có giá trị sử dụng.
Thông tư 35/2026/TT-BGDĐT hướng dẫn đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Circular 35/2026/TT-BGDĐT Guides Public-Private Partnership (PPP) Investment in Education and Training
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 35/2026/TT-BGDĐT ngày 21/4/2026, hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) đối với các dự án giáo dục phổ thông (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở). Thông tư không áp dụng cho lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên. Văn bản quy định cách tính các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án (giá trị hiện tại ròng kinh tế ENPV, tỷ số lợi ích trên chi phí BCR, tỷ suất nội hoàn kinh tế EIRR); khung lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư theo công thức i = iv + f (trong đó iv là lãi vay huy động vốn tham chiếu từ ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước, f là tỷ lệ lạm phát bình quân CPI 10 năm); các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công trình, cơ sở vật chất trường học do doanh nghiệp dự án cung cấp; và thời hạn trích khấu hao công trình hạ tầng đối với hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), áp dụng theo Thông tư số 23/2023/TT-BTC. Thông tư cũng hướng dẫn phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất lựa chọn nhà đầu tư (đấu thầu rộng rãi, đàm phán cạnh tranh, chỉ định nhà đầu tư, trường hợp đặc biệt), đồng thời ban hành mẫu hợp đồng BOT kèm theo. Có hiệu lực từ ngày 06/6/2026. Đối tượng chịu tác động chủ yếu là nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án (DNDA) tham gia đấu thầu các dự án xây dựng trường học theo phương thức PPP, không phải là quy định thuế, kế toán hay hóa đơn áp dụng chung cho doanh nghiệp SME.
Thông tư 20/2026/TT-BCT: Sửa đổi phương pháp tính biểu giá chi phí tránh được cho nhà máy điện năng lượng tái tạo nhỏ
Circular 20/2026/TT-BCT: Amending the Avoided-Cost Tariff Calculation Method for Small Renewable Energy Plants
Thông tư 20/2026/TT-BCT (ban hành 17/4/2026, hiệu lực từ 02/6/2026) sửa đổi Thông tư 10/2025/TT-BCT về phương pháp tính biểu giá chi phí tránh được áp dụng cho các nhà máy điện năng lượng tái tạo nhỏ, chủ yếu là thủy điện nhỏ, khi ký hợp đồng mua bán điện với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Các thay đổi chính gồm: định nghĩa lại mùa mưa và mùa khô theo ranh giới hệ thống điều độ điện lực miền thay vì địa giới hành chính, để không bị ảnh hưởng bởi việc sáp nhập tỉnh; chuyển thẩm quyền từ «cơ quan quản lý nhà nước về điện tại Bộ Công Thương» sang «Cục Điện lực thuộc Bộ Công Thương»; cập nhật Điều 3 mẫu hợp đồng mua bán điện; và ban hành lại toàn bộ phương pháp tính giá (thay Phụ lục II) gồm chi phí điện năng tránh được, tổn thất truyền tải tránh được và giá công suất tránh được. Đây là quy định chuyên ngành năng lượng dành cho chủ đầu tư, vận hành nhà máy điện tái tạo nhỏ và EVN, không có nội dung liên quan đến thuế GTGT, thuế TNDN, hóa đơn điện tử, chuẩn mực kế toán, lao động hay hải quan nên ít liên quan trực tiếp đến phần lớn doanh nghiệp SME và kế toán viên là đối tượng chính của RegHub.
Thông tư 11/2026/TT-BXD quy định danh mục, quy cách và chỉ tiêu kỹ thuật khoáng sản làm vật liệu xây dựng được phép xuất khẩu
Circular 11/2026/TT-BXD specifying the list, specifications and technical standards for exportable construction material minerals
Bộ Xây dựng ban hành Thông tư 11/2026/TT-BXD (ngày 31/3/2026, có hiệu lực từ 01/6/2026) quy định danh mục, quy cách và chỉ tiêu kỹ thuật các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng thuộc nhóm II và nhóm III được phép xuất khẩu, theo quy định tại khoản 38 Điều 1 Nghị định 21/2026/NĐ-CP. Khoáng sản xuất khẩu phải có nguồn gốc hợp pháp, được chứng minh bằng Giấy phép khai thác khoáng sản hoặc giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản. Doanh nghiệp xuất khẩu có trách nhiệm lưu giữ hồ sơ và báo cáo định kỳ hàng năm trước ngày 15/01 gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Thông tư thay thế Thông tư số 04/2021/TT-BXD ngày 30/6/2021 kể từ ngày có hiệu lực. Danh mục xuất khẩu bao gồm nhiều loại khoáng sản như cát oxit silic, đá tự nhiên ốp lát (granit, đá hoa, đá phiến), đá xây dựng thông thường, cao lanh, tràng thạch và các khoáng sản vật liệu xây dựng khác kèm theo chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể.
Nghị định 127/2026/NĐ-CP: Quản lý chất lượng và chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal
Decree 127/2026/ND-CP: Quality Management and Development Policy for Halal Products and Services
Nghị định 127/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/6/2026, lần đầu tiên thiết lập khung pháp lý toàn diện về quản lý chất lượng và phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal tại Việt Nam. Nghị định áp dụng cho tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ Halal (thực phẩm, du lịch, vận chuyển, bảo quản...) cũng như các tổ chức thử nghiệm, chứng nhận Halal. Doanh nghiệp phải công bố tiêu chuẩn Halal áp dụng trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, đảm bảo nguyên liệu không chứa thành phần Haram/Najis, kiểm soát nhiễm chéo trong sản xuất, bao gói, vận chuyển, và ghi rõ cụm từ «HALAL» trên nhãn (trừ khi sản phẩm đã có Dấu chứng nhận Halal). Việc chứng nhận Halal về nguyên tắc là tự nguyện, trừ khi văn bản chuyên ngành quy định bắt buộc. Tổ chức chứng nhận Halal trong nước phải được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, với điều kiện tối thiểu 2 chuyên gia đánh giá là người Hồi giáo có trình độ đại học và chứng chỉ chuyên môn. Kết quả chứng nhận của tổ chức nước ngoài được thừa nhận nếu nằm trong thỏa thuận MRA hoặc được Bộ công nhận đơn phương. Nghị định cũng quy định về kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính, và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa: hỗ trợ chi phí thử nghiệm/chứng nhận một lần cho doanh nghiệp xuất khẩu chủ lực, hỗ trợ xúc tiến thương mại tại hội chợ Halal quốc tế, và xây dựng Cơ sở dữ liệu Halal quốc gia. Doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu thực phẩm, mỹ phẩm, dịch vụ du lịch nhắm đến thị trường Hồi giáo (Trung Đông, Malaysia, Indonesia...) nên rà soát quy trình sản xuất và chuẩn bị hồ sơ công bố tiêu chuẩn trước ngày 01/6/2026.





