Cập nhật tuân thủ #21
[RegHub #21] 20 cập nhật quy định mới
Gửi ngày 17 tháng 8, 2026
Nghị định 310/2026/NĐ-CP: Sửa đổi quy định về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử
Ngày 05/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 310/2026/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 45/2020/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử (đã qua các lần sửa đổi bởi Nghị định 68/2024, 69/2024 và 118/2025/NĐ-CP). Nghị định có hiệu lực ngay từ ngày ký, 05/8/2026. Điểm đáng chú ý nhất với doanh nghiệp và cá nhân là việc đơn giản hóa khâu nộp hồ sơ trực tuyến: nếu tổ chức, cá nhân đăng nhập Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng VNeID bằng tài khoản định danh điện tử mức độ 2, thì không phải ký số vào biểu mẫu điện tử tương tác, trừ khi pháp luật chuyên ngành có quy định khác. Nghị định cũng khái niệm hóa "tài khoản giao dịch điện tử" như một danh tính điện tử dùng để đăng nhập hệ thống giải quyết thủ tục hành chính, đồng thời buộc các cơ quan phải tăng cường tái sử dụng dữ liệu đã có (từ Cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành) để cắt giảm giấy tờ, thành phần hồ sơ mà tổ chức, cá nhân phải nộp lại. Nghị định quy định lại quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ điện tử, tiêu chí để một thủ tục hành chính đủ điều kiện triển khai hoàn toàn trên môi trường điện tử, và trách nhiệm số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính từ bản giấy sang điện tử. Nghị định cũng cập nhật thẩm quyền theo mô hình chính quyền hai cấp (cấp tỉnh, cấp xã) và phân công lại nhiệm vụ giữa Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ (thay cho Văn phòng Chính phủ và Bộ Thông tin và Truyền thông trước đây) trong việc vận hành Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là nghị định mang tính quy trình - áp dụng cho MỌI thủ tục hành chính nộp trực tuyến (đăng ký doanh nghiệp, cấp phép, thuế, đất đai...), không riêng lĩnh vực nào. Doanh nghiệp và hộ kinh doanh nên lưu ý điểm giảm yêu cầu chữ ký số khi đã đăng nhập VNeID mức 2, vì có thể rút ngắn thời gian và chi phí khi nộp hồ sơ hành chính trực tuyến.
Nghị định hợp nhất về quản lý, phát triển cụm công nghiệp (Văn bản hợp nhất 71/2026/VBHN-NĐ-BCT)
Bộ Công Thương vừa công bố văn bản hợp nhất số 71/2026/VBHN-NĐ-BCT, gộp Nghị định 32/2024/NĐ-CP về quản lý, phát triển cụm công nghiệp với các sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 303/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ 15/9/2026). Văn bản quy định toàn bộ vòng đời của một cụm công nghiệp: định nghĩa (diện tích 5-75 ha, không có dân cư sinh sống), các loại hình được ưu tiên (cụm công nghiệp làng nghề, chuyên ngành, hỗ trợ, công nghệ cao, sinh thái), điều kiện và hồ sơ thành lập, mở rộng, cũng như chính sách ưu đãi đầu tư. Với doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã hoặc nhà đầu tư nước ngoài đang tìm mặt bằng sản xuất, văn bản này quan trọng vì nó quy định điều kiện để một địa phương được lập cụm công nghiệp mới (tỷ lệ lấp đầy các cụm hiện có phải trên 50% hoặc quỹ đất công nghiệp chưa cho thuê không quá 50 ha), cũng như quyền lợi của tổ chức, cá nhân thuê đất sản xuất kinh doanh trong cụm - bao gồm việc được hưởng ưu đãi đầu tư theo pháp luật về đất đai, thuế và tín dụng vì cụm công nghiệp được xác định là địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Điểm đáng chú ý của lần sửa đổi 2026 là cập nhật toàn bộ thuật ngữ hành chính từ cấp huyện sang cấp xã (phản ánh việc bỏ cấp huyện trong tổ chức chính quyền địa phương), đổi tên «phương án phát triển» thành «phương hướng phát triển» cụm công nghiệp, bổ sung định nghĩa mới cho cụm công nghiệp hỗ trợ và công nghệ cao, đồng thời rút gọn thủ tục thẩm định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp về cho Ủy ban nhân dân cấp xã và Sở Công Thương. Doanh nghiệp đang có kế hoạch thuê đất hoặc đầu tư hạ tầng trong cụm công nghiệp nên rà soát lại quy trình nộp hồ sơ theo đầu mối cấp xã mới kể từ 15/9/2026.
Miễn thuế TNDN 3 năm cho DNNVV mới thành lập: có bị loại trừ khi đồng sở hữu 50% vốn tại doanh nghiệp khác?
Nghị định số 20/2026/NĐ-CP (hướng dẫn Nghị quyết 198/2025/QH15 về phát triển kinh tế tư nhân) cho phép doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đăng ký kinh doanh lần đầu được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trong 3 năm kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Tuy nhiên, ưu đãi này không áp dụng cho doanh nghiệp mới thành lập từ sáp nhập, chia, tách, hợp nhất, chuyển đổi chủ sở hữu hoặc loại hình, hoặc khi người đại diện theo pháp luật, thành viên hợp danh hay người có vốn góp cao nhất của doanh nghiệp mới đã từng giữ vai trò tương tự tại một doanh nghiệp khác đang hoạt động hoặc mới giải thể chưa đủ 12 tháng. Một chủ doanh nghiệp hỏi Bộ Tài chính về trường hợp cụ thể của mình: ông đồng thời là Giám đốc một công ty TNHH một thành viên mới lập, và đang sở hữu 50% vốn điều lệ (bằng với thành viên còn lại) tại một công ty TNHH hai thành viên khác đang hoạt động. Ông muốn biết liệu tỷ lệ sở hữu ngang bằng 50% có khiến công ty mới bị loại khỏi diện miễn thuế hay không, và liệu việc chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp đó cho người khác có giúp khôi phục quyền hưởng ưu đãi cho thời gian còn lại hay không. Bộ Tài chính không đưa ra kết luận trực tiếp cho từng câu hỏi mà chỉ trích dẫn nguyên văn quy định tại Khoản 3 Điều 7 Nghị định 20/2026/NĐ-CP và đề nghị doanh nghiệp tự đối chiếu, đồng thời liên hệ cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được hướng dẫn cụ thể dựa trên hồ sơ thực tế. Đây là lưu ý quan trọng cho các chủ doanh nghiệp có sở hữu chéo hoặc đồng sở hữu vốn tại nhiều công ty: cần rà soát kỹ vai trò (đại diện pháp luật, thành viên hợp danh, tỷ lệ vốn góp cao nhất) tại các doanh nghiệp liên quan trước khi thành lập công ty mới để tránh mất quyền hưởng ưu đãi miễn thuế TNDN 3 năm.
Dự án nhóm B, C dùng vốn nhà nước: kiểm toán báo cáo quyết toán do chủ đầu tư tự quyết định
Nghị định số 193/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ 01/07/2026) quy định về quyết toán vốn đầu tư dự án, trong đó khoản 1 Điều 9 yêu cầu kiểm toán báo cáo quyết toán bắt buộc đối với các dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A sử dụng vốn đầu tư công, vốn chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, hoặc vốn ngân sách nhà nước khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về đầu tư công. Một độc giả hỏi liệu các dự án sử dụng nguồn chi thường xuyên - ví dụ dự án sửa chữa, bảo trì đường bộ hoặc công trình thủy lợi dùng kinh phí sự nghiệp - có bắt buộc phải kiểm toán trước khi trình cấp có thẩm quyền thẩm tra, phê duyệt quyết toán hay không. Bộ Tài chính trả lời rằng theo điểm b khoản 1 Điều 73 Luật Xây dựng, chủ đầu tư chịu trách nhiệm quản lý chi phí đầu tư xây dựng trong phạm vi tổng mức đầu tư được phê duyệt; chi phí kiểm toán độc lập chỉ là một khoản mục nhỏ trong tổng mức đầu tư và việc có bố trí chi phí này hay không đã được quyết định ngay từ khi phê duyệt dự án. Do đó, đối với các dự án nhóm B và nhóm C sử dụng vốn đầu tư công, vốn chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, hoặc vốn ngân sách nhà nước khác ngoài phạm vi pháp luật đầu tư công, việc có thuê kiểm toán độc lập trước khi trình thẩm tra quyết toán hay không thuộc trách nhiệm tự quyết định của chủ đầu tư, chứ không phải là yêu cầu bắt buộc như đối với dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A. Nếu có nhu cầu thuê kiểm toán, chủ đầu tư phải tổ chức đấu thầu và ký hợp đồng kiểm toán theo đúng quy định pháp luật về đấu thầu và hợp đồng. Đối với doanh nghiệp là chủ đầu tư các dự án nhóm B, C dùng vốn nhà nước - đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng, sửa chữa hạ tầng giao thông, thủy lợi - đây là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định có cần bố trí chi phí kiểm toán độc lập trong tổng mức đầu tư hay không, tránh phát sinh chi phí ngoài dự toán hoặc chậm trễ khi trình phê duyệt quyết toán.
Nghị định 309/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính
Ngày 05/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 309/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP (đã được sửa đổi bởi Nghị định số 367/2025/NĐ-CP) về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Nghị định có hiệu lực ngay từ ngày ký, 05/8/2026. Về nội dung, Nghị định bổ sung khái niệm «ki-ốt thông minh» - thiết bị tự phục vụ kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia cho phép tổ chức, cá nhân tự tra cứu, nộp hồ sơ, xác thực định danh qua VNeID hoặc thẻ Căn cước, thanh toán trực tuyến và nhận kết quả mà không cần cán bộ hỗ trợ trực tiếp. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm khai thác dữ liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu quốc gia thay vì yêu cầu doanh nghiệp, người dân nộp lại giấy tờ đã từng cung cấp, trừ trường hợp có sự cố kỹ thuật hoặc dữ liệu chưa chính xác. Nghị định cũng cho phép Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh và cấp xã tiếp nhận một số thủ tục không phụ thuộc vào địa giới hành chính trên phạm vi toàn quốc, nếu thủ tục đáp ứng yêu cầu về số hóa hồ sơ và xác thực điện tử. Bộ Công an được giao ứng dụng trí tuệ nhân tạo trên Cổng Dịch vụ công quốc gia để hỗ trợ hướng dẫn tự động, phân loại và kiểm tra hồ sơ, cảnh báo tồn đọng - với lưu ý AI chỉ mang tính hỗ trợ, không thay thế quyết định của người có thẩm quyền. Đây là nghị định mang tính kỹ thuật, tổ chức lại bộ máy vận hành dịch vụ hành chính công (nhân sự, ki-ốt, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước), không sửa đổi quy định nội dung về thuế, lao động, hải quan, hóa đơn điện tử hay đăng ký kinh doanh. Doanh nghiệp có thể hưởng lợi gián tiếp từ việc giảm yêu cầu nộp lại giấy tờ và rút ngắn thời gian xử lý khi nộp hồ sơ tại Trung tâm Phục vụ hành chính công, nhưng nghị định không tạo ra nghĩa vụ tuân thủ mới nào cho chủ doanh nghiệp hay kế toán.
Thuế GTGT được khấu trừ không tính vào chi phí quyết toán vốn đầu tư dự án (mẫu 01/QTDA)
Bộ Tài chính vừa giải đáp thắc mắc về cách thể hiện thuế giá trị gia tăng (GTGT) được khấu trừ trong báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án theo mẫu 01/QTDA ban hành kèm Nghị định 193/2026/NĐ-CP. Theo Điều 4 và khoản 2 Điều 3 Nghị định 193/2026/NĐ-CP, vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp thực hiện trong phạm vi dự án, dự toán được duyệt và hợp đồng đã ký kết. Căn cứ khoản 2 Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 và điểm đ, điểm e Điều 14 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15, Bộ Tài chính khẳng định: nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và khoản thuế GTGT đầu vào đủ điều kiện khấu trừ hoặc đã được hoàn thì khoản thuế này không được tính vào giá trị tài sản cố định, chi phí đầu tư, hay chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Vì mẫu 01/QTDA kèm theo Nghị định 193/2026/NĐ-CP không có chỉ tiêu riêng để phản ánh số thuế GTGT được khấu trừ, chủ đầu tư khi lập báo cáo quyết toán cần tự xác định giá trị vốn đầu tư đề nghị quyết toán không bao gồm phần thuế GTGT đầu vào đủ điều kiện khấu trừ hoặc được hoàn theo quy định pháp luật về thuế. Đây là văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hiện hành, không phải quy định mới, nhưng có ý nghĩa thực tiễn với chủ đầu tư và kế toán dự án khi lập hồ sơ quyết toán.
Bộ Tài chính hướng dẫn cách tính tiền sử dụng đất cho đất lấn, chiếm được cấp giấy chứng nhận trước 1/7/2004
Một người dân tại Hưng Yên hỏi Bộ Tài chính về việc tính tiền sử dụng đất khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) đối với phần diện tích đất lấn, chiếm theo Điều 139 Luật Đất đai năm 2024. Câu hỏi cụ thể là: nếu trước khi đề nghị cấp GCN cho phần đất vi phạm này, người sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất (hoặc đã nhận chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao đất có thu tiền) ở một thời điểm khác, thì phần diện tích đó có được trừ ra khi tính tiền sử dụng đất phải nộp cho phần đất lấn, chiếm hay không. Trả lời, cơ quan Thuế (Chi cục Thuế Cơ sở 9, tỉnh Hưng Yên) trích dẫn điểm a khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai 2024 và điểm a khoản 3 Điều 11 Nghị định 103/2024/NĐ-CP: đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ 15/10/1993 đến trước 1/7/2004, nay được cấp GCN vào mục đích đất ở, tiền sử dụng đất đối với phần diện tích trong hạn mức đất ở được tính bằng diện tích đất được cấp GCN trong hạn mức giao đất ở, nhân với giá đất ở theo bảng giá đất, nhân với 30%. Tuy nhiên, cơ quan Thuế không trả lời trực tiếp câu hỏi về việc có được giảm trừ diện tích đã công nhận hoặc đã giao trước đó hay không. Văn bản nêu rõ: cơ quan Thuế chỉ tiếp nhận Phiếu chuyển thông tin xác định nghĩa vụ tài chính do cơ quan quản lý đất đai chuyển sang qua hình thức điện tử liên thông, làm căn cứ ra thông báo nộp tiền; còn việc xác định vị trí, hạn mức và tính hợp pháp của thửa đất - bao gồm việc có trừ diện tích đã công nhận/giao trước đó hay không - không thuộc thẩm quyền cơ quan Thuế. Người hỏi được đề nghị liên hệ trực tiếp cơ quan quản lý đất đai để được hướng dẫn cụ thể. Đối với SME hoặc cá nhân sở hữu đất có nguồn gốc lấn, chiếm hoặc đang làm thủ tục cấp GCN cho phần diện tích vi phạm trước đây, cần lưu ý: số tiền sử dụng đất cuối cùng phụ thuộc vào số liệu do cơ quan đất đai xác định và chuyển sang, không phải do cơ quan Thuế tự tính toán độc lập; nên làm việc trực tiếp với cơ quan quản lý đất đai để làm rõ việc giảm trừ diện tích trước khi nhận thông báo nộp tiền từ cơ quan Thuế.
Xác định cư trú thuế TNCN cho người nước ngoài lần đầu làm việc tại Việt Nam
Một doanh nghiệp hỏi cơ quan thuế cách xác định tình trạng cư trú thuế thu nhập cá nhân (TNCN) của một người lao động nước ngoài được công ty mẹ điều chuyển sang làm việc tại Việt Nam từ ngày 15/09/2025. Người này đã có giấy phép lao động và thẻ tạm trú. Trước đó, người này từng nhập cảnh ngắn hạn (14 đến 18/03/2024) để dự đám cưới người thân, không làm việc và không có thu nhập trong lần đó. Doanh nghiệp muốn biết cá nhân có phải là người cư trú thuế năm 2025 hay không, có được ủy quyền cho công ty quyết toán thuế thay hay không, và chuyến đi ngắn năm 2024 có ảnh hưởng gì không. Căn cứ Thông tư 111/2013/TT-BTC và Nghị định 126/2020/NĐ-CP, cơ quan thuế trả lời rằng một cá nhân được coi là cư trú tại Việt Nam nếu có mặt từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch, hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt. Doanh nghiệp phải căn cứ vào dấu xuất nhập cảnh thực tế trên hộ chiếu, đối chiếu với hợp đồng lao động hoặc văn bản điều chuyển, để tự xác định tình trạng cư trú của người lao động. Đối với trường hợp nêu trong câu hỏi, cơ quan thuế không đưa ra kết luận cụ thể về tình trạng cư trú của cá nhân này. Thay vào đó, cơ quan thuế yêu cầu doanh nghiệp tự căn cứ vào dấu xuất nhập cảnh thực tế trên hộ chiếu của người lao động, đối chiếu với hợp đồng lao động hoặc văn bản điều chuyển, để xác định tình trạng cư trú.
Văn bản hợp nhất số 122/2026/VBHN-NQ-VPQH: Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc biệt đầu tư xây dựng Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận
Đây là bản hợp nhất Nghị quyết số 189/2025/QH15 của Quốc hội (hiệu lực từ 19-02-2025) với nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị quyết số 121/2026/UBTVQH15 (hiệu lực từ 30-3-2026), quy định các cơ chế, chính sách đặc biệt để đầu tư xây dựng Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2. Nghị quyết cho phép loạt cơ chế «vượt khung» chỉ áp dụng riêng cho dự án này: chỉ định thầu theo quy trình rút gọn cho gói thầu chìa khóa trao tay và các gói tư vấn quan trọng; đàm phán điều ước quốc tế song song với thủ tục phê duyệt dự án; áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật của đối tác nước ngoài; các ngân hàng thương mại trong nước được miễn tính khoản vay của chủ đầu tư vào tổng mức dư nợ cấp tín dụng theo Luật Các tổ chức tín dụng; chủ đầu tư được vay vốn ODA, phát hành trái phiếu công trình mà không qua một số thủ tục thẩm định thông thường. Tỉnh Ninh Thuận được giữ lại 70% số tăng thu ngân sách từ dự án, được vay lại ODA vượt trần thông thường, và áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đất đai với hệ số nhân 1,5 lần khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ dự án. Với cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung, tác động trực tiếp gần như không có vì đây là cơ chế đặc thù chỉ áp dụng cho một dự án hạ tầng năng lượng quốc gia cụ thể. Đối tượng chịu tác động trực tiếp là chủ đầu tư dự án (doanh nghiệp nhà nước), các ngân hàng thương mại tham gia thu xếp vốn, nhà thầu và đối tác nước ngoài tham gia đấu thầu, cùng người dân, tổ chức có đất bị thu hồi tại tỉnh Ninh Thuận. Kế toán, tư vấn thuế phục vụ các đối tượng này nên lưu ý các quy định miễn trừ tín dụng và chính sách bồi thường đất đặc thù nêu trên.
Hóa đơn máy tính tiền sai thông tin không trọng yếu: Áp dụng điểm a hay điểm c khoản 1 Điều 10 Thông tư 91/2026/TT-BTC?
Một người nộp thuế hỏi Bộ Tài chính về việc xử lý hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền khi hóa đơn bị sai các nội dung như tên, địa chỉ, số tiền bằng chữ hoặc nội dung khác, nhưng KHÔNG sai về mã số thuế, số tiền ghi trên hóa đơn, thuế suất, tiền thuế hoặc hàng hóa. Câu hỏi đặt ra là liệu trường hợp này có được xử lý theo điểm a khoản 1 Điều 10 Thông tư 91/2026/TT-BTC (chỉ cần thông báo cho người mua và thông báo với cơ quan thuế theo Mẫu số 04/SS-HĐĐT, không phải lập lại hóa đơn) hay không, trong khi điểm c cùng khoản lại quy định riêng rằng hóa đơn điện tử từ máy tính tiền bị lập sai thì người bán phải lập hóa đơn thay thế. Trong câu trả lời, cơ quan thuế trích dẫn lại nguyên văn căn cứ pháp lý: Thông tư số 91/2026/TT-BTC (hiệu lực từ 01/07/2026), Nghị định số 254/2026/NĐ-CP và Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử; đồng thời nhắc lại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 10 và điểm c.2 khoản 5 Điều 10 (trường hợp hàng hóa là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng đã đăng ký theo tên người mua thì khi trả lại hàng, người mua lập hóa đơn trả lại thay vì người bán lập hóa đơn thay thế). Tuy nhiên, câu trả lời KHÔNG đưa ra kết luận trực tiếp có/không cho tình huống cụ thể của người hỏi, mà chỉ đề nghị người nộp thuế "căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị để thực hiện theo đúng quy định". Về mặt thực tế, cần lưu ý điểm c khoản 1 Điều 10 quy định riêng cho hóa đơn điện tử từ máy tính tiền (và hóa đơn bán tài sản phải đăng ký quyền sở hữu) là phải lập hóa đơn thay thế khi có sai sót, không phân biệt loại sai sót như điểm a áp dụng chung, trừ trường hợp trả lại hàng tại điểm c.2 khoản 5. Do câu trả lời của cơ quan thuế mang tính chung chung và không khẳng định rõ, doanh nghiệp và hộ kinh doanh sử dụng hóa đơn máy tính tiền nên thận trọng và liên hệ trực tiếp cơ quan thuế quản lý để được hướng dẫn cụ thể trước khi áp dụng.
Bộ Tài chính hướng dẫn kê khai phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo Nghị định 346/2025/NĐ-CP
Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính) vừa giải đáp câu hỏi của một doanh nghiệp về cách kê khai phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải theo Nghị định số 346/2025/NĐ-CP, áp dụng cho ba tình huống: cơ sở đóng tàu có cả nước thải công nghiệp và sinh hoạt, cơ sở chăn nuôi heo, và cơ sở sản xuất, nuôi trai lấy ngọc xuất khẩu. Theo Điều 2 Nghị định 346/2025/NĐ-CP, đối tượng chịu phí là nước thải công nghiệp (toàn bộ nước thải từ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ xả ra nguồn tiếp nhận, trừ phần được xếp là sinh hoạt) và nước thải sinh hoạt (nước thải hộ gia đình, nước thải từ các loại hình kinh doanh dịch vụ được quản lý như sinh hoạt theo quy chuẩn kỹ thuật, hoặc nước thải dưới 20 m3/ngày nếu dùng nước sạch). Doanh nghiệp có cả hai loại nước thải, như cơ sở đóng tàu, phải xác định và kê khai riêng cho từng loại theo phân loại này. Đáng chú ý, nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản, hải sản (bao gồm nuôi trai lấy ngọc) được miễn phí BVMT theo Khoản 10 Điều 5, không phân biệt nguồn nước đầu vào. Với các câu hỏi kỹ thuật về phân loại nước thải hoặc xác định hoạt động nuôi trồng thủy sản (bao gồm trường hợp chăn nuôi heo), Bộ Tài chính đề nghị doanh nghiệp liên hệ Bộ Nông nghiệp và Môi trường để được hướng dẫn cụ thể.
BHXH Việt Nam hướng dẫn xác định tiền lương đóng BHXH bắt buộc cho lao động làm việc theo hợp đồng khoán, lương sản phẩm
Nhiều doanh nghiệp xây dựng và các ngành khác đang sử dụng hợp đồng giao khoán (khoán việc, lương sản phẩm) cho người lao động, nhưng gặp vướng mắc khi xác định mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc, do thu nhập thực tế của người lao động biến động theo tháng và chỉ xác định được sau khi kết thúc tháng làm việc. Trả lời câu hỏi của doanh nghiệp, Bảo hiểm xã hội Việt Nam dẫn khoản 1 Điều 7 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP và Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH, nêu rõ: đối với người lao động hưởng lương theo sản phẩm hoặc lương khoán, doanh nghiệp phải ghi trong hợp đồng lao động mức lương tính theo thời gian (theo tháng) dùng để xác định đơn giá sản phẩm hoặc đơn giá khoán. Chính mức lương theo thời gian này, chứ không phải số tiền thực nhận biến động hằng tháng, mới là căn cứ để tính tiền lương đóng BHXH bắt buộc, cùng với các khoản phụ cấp và khoản bổ sung khác có mức xác định cụ thể, trả ổn định, thường xuyên (không bao gồm phần biến động theo năng suất hay sản lượng). Như vậy, doanh nghiệp cần thỏa thuận và ghi rõ mức lương theo thời gian trong hợp đồng lao động ngay từ đầu, thay vì chờ đến cuối tháng mới xác định thu nhập thực tế rồi mới tính mức đóng BHXH. Cách làm này giúp doanh nghiệp tránh tình trạng chậm đóng, đóng thừa hoặc đóng thiếu BHXH hằng tháng cho người lao động làm việc theo hình thức khoán, lương sản phẩm.
Người có 2 mã số thuế cá nhân: Giảm trừ gia cảnh có bị mất khi người phụ thuộc khai theo mã số thuế khác?
Một người lao động phát hiện mình vô tình được cấp hai mã số thuế thu nhập cá nhân (MST) mà không rõ lý do. Khi công ty quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) cho người này, hai người phụ thuộc (NPT) của người lao động lại được đăng ký theo mã số thuế thứ hai, trong khi việc quyết toán thực hiện qua mã số thuế thứ nhất. Người lao động lo ngại có thể không được tính giảm trừ gia cảnh cho hai người phụ thuộc này. Trả lời câu hỏi, Thuế tỉnh Thái Nguyên dẫn khoản 4 Điều 37 Thông tư số 90/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 của Bộ Tài chính quy định về đăng ký thuế: cá nhân đã được cấp nhiều hơn một mã số thuế phải cập nhật số định danh cá nhân cho tất cả các mã số thuế đã cấp, để cơ quan thuế tích hợp các mã số vào số định danh cá nhân và hợp nhất dữ liệu thuế theo số định danh này. Sau khi tích hợp, các hóa đơn, chứng từ, hồ sơ thuế đã lập trước đó bằng bất kỳ mã số thuế nào trong số đó vẫn tiếp tục có giá trị sử dụng cho các thủ tục hành chính thuế và chứng minh việc thực hiện nghĩa vụ thuế, mà không cần điều chỉnh sang số định danh cá nhân. Nói cách khác, một khi hai mã số thuế được hợp nhất vào cùng một số định danh cá nhân, thông tin người phụ thuộc đã khai theo mã số thứ hai vẫn được công nhận là của cùng người lao động đó. Cơ quan thuế cũng dẫn Công văn số 3422/CT-NVT ngày 27/5/2026 của Cục Thuế (kèm Phụ lục 01) hướng dẫn cách tra cứu trạng thái mã số thuế và thực hiện cập nhật số định danh cá nhân, đề nghị người nộp thuế thực hiện theo đúng hướng dẫn này để đảm bảo quyền lợi giảm trừ gia cảnh không bị ảnh hưởng.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường
Đây là một dự thảo luật đang trong giai đoạn xây dựng, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì soạn thảo, nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật hiện hành có liên quan đến thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội là cơ quan chủ trì thẩm tra dự thảo này. Dự thảo dự kiến được trình và thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất của Quốc hội Khóa XVI. Tại thời điểm này, tài liệu chỉ cung cấp thông tin về tình trạng lập pháp (cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra, lịch trình dự kiến) mà chưa có nội dung điều khoản cụ thể để đánh giá tác động chi tiết đến doanh nghiệp. Doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường nên theo dõi tiến trình của dự thảo này vì nó có thể thay đổi điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính áp dụng cho ngành. Tuy nhiên, dự thảo chưa liên quan trực tiếp đến các nghĩa vụ thuế, kế toán, hóa đơn điện tử, lao động hay hải quan.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư
Đây là dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV của Luật Đầu tư, nội dung liên quan đến Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Cơ quan chủ trì soạn thảo là Bộ Tài chính, cơ quan chủ trì thẩm tra là Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội. Dự thảo dự kiến được trình và thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI. Đây mới là bước khởi động trong quy trình lập pháp; nội dung cụ thể về những ngành, nghề nào sẽ được bổ sung, loại bỏ hay điều chỉnh điều kiện kinh doanh chưa được công bố tại thời điểm này, ngoài tên gọi và thông tin thủ tục nêu trên. Doanh nghiệp, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp đang hoạt động trong những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, nên theo dõi sát tiến trình của dự thảo này. Bất kỳ thay đổi nào đối với Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến yêu cầu cấp phép con, đăng ký đầu tư (IRC) và nghĩa vụ tuân thủ của doanh nghiệp khi văn bản chính thức được ban hành.
Văn bản hợp nhất số 70/2026/VBHN-TT-BCT: Hợp nhất Thông tư quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương và Nghị định 69/2018/NĐ-CP
Đây là văn bản hợp nhất do Bộ Công Thương ban hành ngày 03/8/2026, gộp Thông tư số 12/2018/TT-BCT (quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương và Nghị định số 69/2018/NĐ-CP) cùng 6 lần sửa đổi, bổ sung sau đó (các Thông tư 42/2019, 08/2023, 38/2025, 15/2026, 26/2026 và 41/2026/TT-BCT) thành một bản duy nhất, cập nhật đến thời điểm hiện tại. Văn bản áp dụng cho thương nhân Việt Nam và các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động ngoại thương. Nội dung chính gồm: (1) Danh mục chi tiết theo mã HS các mặt hàng tiêu dùng, thiết bị y tế, phương tiện đã qua sử dụng cấm nhập khẩu; (2) mẫu đơn và quy trình cấp các loại giấy phép mà doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường cần - Giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS), giấy phép kinh doanh tạm nhập tái xuất, giấy phép quá cảnh hàng hóa, giấy phép sản xuất/gia công xuất khẩu quân phục; (3) quy định về hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đối với đường tinh luyện, đường thô, muối, thuốc lá nguyên liệu và trứng gia cầm, bao gồm cơ quan quyết định hạn ngạch hằng năm (trước ngày 15/11), điều kiện được xét cấp phép, hồ sơ, thời hạn giải quyết (10 ngày làm việc) và nghĩa vụ báo cáo định kỳ hằng quý. Doanh nghiệp cần lưu ý đây là văn bản hợp nhất chỉ có giá trị tham khảo, không tự thân tạo ra quy định pháp luật mới - nó chỉ tổng hợp lại các quy định đã và đang có hiệu lực ở nhiều thời điểm khác nhau (điều khoản mới nhất, từ Thông tư 41/2026/TT-BCT về danh mục phế liệu và hàng đã qua sử dụng tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu, có hiệu lực từ 05/9/2026). Đây là tài liệu tham chiếu hữu ích cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, kinh doanh tạm nhập tái xuất và quá cảnh hàng hóa để nắm được toàn bộ quy định hiện hành trong một văn bản.