Từ ngày 1/7/2026, Nghị định số 252/2026/ND-CP chính thức có hiệu lực, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế 2025 (Luật số 108/2025/QH15). Nghị định này đi kèm hai thông tư của Bộ Tài chính là Thông tư 89/2026/TT-BTC (hướng dẫn chi tiết Luật và Nghị định 252) và Thông tư 90/2026/TT-BTC (quy định về đăng ký thuế). Bộ ba văn bản này hợp nhất và thay thế năm nghị định cũ (bao gồm Nghị định 126/2020, 91/2022, 49/2025, 117/2025 và 373/2025), nhằm đơn giản hóa và đồng bộ hóa khung pháp lý về quản lý thuế. Những thay đổi đáng chú ý gồm: chuẩn hóa thời hạn đăng ký và thông báo thuế cho nhiều loại người nộp thuế (ví dụ đăng ký thuế lần đầu trong 10 ngày làm việc, đăng ký người phụ thuộc giảm trừ thuế thu nhập cá nhân trước 31/12 hàng năm); cơ chế mới cho phép doanh nghiệp đang bị cưỡng chế hóa đơn vẫn được xuất hóa đơn nếu nộp trước tối thiểu 18% giá trị thanh toán vào ngân sách; cập nhật thủ tục hoàn thuế giá trị gia tăng theo hướng giảm giấy tờ và số hóa; quy định khấu trừ và kê khai thuế đối với nhà cung cấp thương mại điện tử nước ngoài qua nền tảng; và làm rõ nghĩa vụ thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) không phải là điều kiện tiên quyết để chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Nghị định cũng siết chặt quy tắc tạm hoãn xuất cảnh đối với người nộp thuế nợ thuế, đồng thời tăng cường bảo vệ thông tin cá nhân khi công khai danh sách nợ thuế và mở rộng chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan thuế với hải quan, ngân hàng, cơ quan đất đai. Doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nên rà soát ngay quy trình quản trị thuế nội bộ, cập nhật thời hạn đăng ký thuế mới, đánh giá lại quy trình quản lý hóa đơn và đảm bảo bộ phận tài chính - thuế - pháp lý nắm rõ khung pháp lý hợp nhất này trước kỳ tuân thủ tiếp theo.
Việt Nam đã thành lập một Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) thống nhất, hoạt động tại cả Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 9 năm 2025. Tám nghị định hướng dẫn ban hành ngày 18 tháng 12 năm 2025 quy định chi tiết về thành lập, chính sách tài chính, lao động, đất đai, xuất nhập cảnh, trọng tài quốc tế, cấp phép ngân hàng và sàn giao dịch hàng hóa. IFC là một môi trường pháp lý đặc thù nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam, chỉ áp dụng quy định riêng khi luật chuyên ngành có quy định khác. Về thuế, doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ưu tiên có thể được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) tới 4 năm và giảm 50% tới 9 năm tiếp theo; lĩnh vực khác được miễn tới 2 năm và giảm 50% tới 4 năm tiếp theo. Cá nhân quản lý, chuyên gia, nhà khoa học đủ điều kiện làm việc tại IFC được miễn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với tiền lương đến hết năm 2030. IFC không phải là khu phi thuế quan nên hàng hóa xuất nhập khẩu vẫn chịu thuế thông thường, trừ một số miễn trừ cho thiết bị công nghệ, hạ tầng thông tin phục vụ dự án IFC. Các lợi thế vận hành khác gồm cơ chế ngoại hối riêng, được áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế, cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho sản phẩm tài chính mới, thủ tục lao động và cư trú thuận lợi hơn cho chuyên gia nước ngoài, cùng cơ chế trọng tài và tòa án chuyên biệt cho tranh chấp trong IFC. Nhà đầu tư cần đánh giá kỹ việc phân loại hoạt động, điều kiện thành viên, cấp phép và mức lợi ích thuế thực tế trước khi tham gia, vì tư cách thành viên không tự động đảm bảo mọi ưu đãi.
Từ tháng 7/2025, sau khi Luật Doanh nghiệp được sửa đổi và Nghị định 168/2025/ND-CP ban hành, Việt Nam lần đầu tiên đưa việc xác định và khai báo chủ sở hữu hưởng lợi cuối cùng (UBO) vào nghĩa vụ đăng ký doanh nghiệp. Quy định áp dụng cho cả doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp đã thành lập trước đó (theo lộ trình chuyển tiếp), đồng thời doanh nghiệp phải cập nhật thông tin UBO khi có thay đổi. Nghị định 296/2026/ND-CP, có hiệu lực từ 23/7/2026, đưa ra tiêu chí xác định UBO chi tiết hơn nhiều so với trước, theo ba cấp độ áp dụng tuần tự: sở hữu vốn/quyền biểu quyết từ 25% trở lên (trực tiếp, gián tiếp hoặc kết hợp), quyền kiểm soát thực tế (bổ nhiệm/bãi nhiệm nhân sự quản lý chủ chốt, sửa đổi điều lệ, quyết định chính sách tài chính - đầu tư), và cuối cùng là người có thẩm quyền quản lý cao nhất nếu hai cấp trên không xác định được ai. Việc đánh giá không chỉ dựa vào hồ sơ pháp lý mà còn xem xét cấu trúc kiểm soát thực tế, kể cả qua các thỏa thuận hợp đồng. Song song đó, Nghị định 288/2026/ND-CP (ban hành trước 2 ngày) quy định chế tài xử phạt đáng kể đối với vi phạm nghĩa vụ khai báo UBO: từ cảnh cáo đến mức phạt 100 triệu đồng cho hành vi không khai báo, khai báo sai lệch, chậm cập nhật hoặc không lưu giữ sổ đăng ký UBO. Doanh nghiệp thành lập trước 1/7/2025 cần bổ sung thông tin UBO tại lần thay đổi đăng ký doanh nghiệp gần nhất; doanh nghiệp thành lập sau ngày này phải khai báo UBO ngay từ hồ sơ đăng ký ban đầu. Đây là thay đổi quan trọng mà chủ doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu nhiều tầng hoặc có yếu tố nước ngoài, cần rà soát ngay để tránh rủi ro bị xử phạt.
Ngày 8/6/2026, Việt Nam ban hành Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), đặt ra định hướng chiến lược đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Đây là văn kiện chính sách, chưa phải là một cơ chế đầu tư có hiệu lực trực tiếp, nhưng ý nghĩa của nó nằm ở việc định hình cách pháp luật, ưu đãi, cơ chế hỗ trợ và quản lý đầu tư sẽ thay đổi trong thời gian tới. Thông điệp cốt lõi không chỉ là thu hút FDI nhiều hơn, mà là thay đổi cách lựa chọn, hỗ trợ và đánh giá đầu tư nước ngoài: từ ưu tiên quy mô sang ưu tiên chất lượng, từ dự án đơn lẻ sang cụm ngành và chuỗi giá trị, từ ưu đãi cấp ngay khi cấp phép sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết. Nghị quyết đặt mục tiêu thu hút khoảng 200-300 tỷ USD vốn đăng ký giai đoạn 2026-2030, cùng các chỉ tiêu chất lượng như 75% vốn FDI đến từ các nền kinh tế phát triển, tăng 30% số doanh nghiệp Fortune 500 đầu tư vào Việt Nam, thu hút ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, văn phòng hoặc trung tâm R&D. Đồng thời, mục tiêu có 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng FDI (trong đó 500-1.000 nhà cung cấp cấp 1) và tỷ lệ nội địa hóa bình quân 45-50% ở các ngành trọng điểm cho thấy mong muốn khu vực FDI gắn kết chặt chẽ hơn với cộng đồng doanh nghiệp trong nước. Về công cụ chính sách, Nghị quyết hướng tới bốn nhóm giải pháp: cơ chế lựa chọn và hỗ trợ nhà đầu tư chiến lược với thủ tục đầu tư đặc biệt; phát triển các môi trường đầu tư có cơ chế vượt trội như trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, khu công nghệ cao; cải cách quản lý nhà nước qua Cổng đầu tư một cửa quốc gia, số hóa toàn trình, nguyên tắc «khai một lần, dùng nhiều lần»; và chuyển ưu đãi đầu tư sang mô hình dựa trên hiệu quả thực hiện. Nhà đầu tư hiện hữu và nhà đầu tư mới cần rà soát lại chiến lược trung hạn tại Việt Nam, vì việc giám sát sau cấp phép, minh bạch nguồn vốn, chuyển giá và các cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo, phát triển nhà cung cấp trong nước có thể được siết chặt hơn, kể cả khi thủ tục gia nhập thị trường được đơn giản hóa.
Từ ngày 1/7/2026, Nền tảng Hợp đồng lao động điện tử quốc gia chính thức vận hành, và mọi hợp đồng lao động điện tử ký kết từ thời điểm này đều được cấp một Mã hợp đồng thông qua nền tảng. Đây là mảnh ghép cuối cùng của khung pháp lý bắt đầu từ Nghị định 337/2025/ND-CP và được quy định chi tiết vận hành tại Thông tư 08/2026/TT-BNV. Hợp đồng lao động giấy vẫn được phép sử dụng, nên vấn đề đặt ra với hầu hết doanh nghiệp không phải là hợp đồng điện tử có hợp lệ hay không, mà là quy trình nhân sự, ký kết, lựa chọn nhà cung cấp và quản trị dữ liệu của họ có phù hợp với mô hình vận hành mới hay không. Việc ký kết một hợp đồng lao động điện tử gồm ba lớp riêng biệt: định danh điện tử của cả hai bên, ký số và xác thực qua hệ thống hợp đồng điện tử (eContract) đạt chuẩn, và nộp dữ liệu lên nền tảng quốc gia trong vòng 24 giờ kể từ chữ ký cuối cùng, sau đó nền tảng có thêm 24 giờ để cấp Mã hợp đồng. Theo Điều 7 Nghị định 337, hợp đồng có hiệu lực khi bên ký sau cùng hoàn tất chữ ký số và nhà cung cấp hoàn tất xác thực, không phụ thuộc vào thời điểm Mã hợp đồng được cấp. Người lao động vì vậy không cần chờ Mã hợp đồng mới được bắt đầu làm việc, nếu hợp đồng đã có hiệu lực và các bên không thỏa thuận ngày bắt đầu khác. Khung pháp lý cũng mở cơ chế chuyển tiếp cho hợp đồng ký trước 1/7/2026 để được cấp Mã hợp đồng loại C, và cho phép chuyển đổi hợp đồng giấy sang điện tử (Mã loại B) nếu đáp ứng điều kiện của Luật Giao dịch điện tử và Nghị định 337. Dữ liệu người lao động chuyển qua nền tảng - gồm địa chỉ, số điện thoại, ngày sinh, vị trí công việc và toàn bộ thông tin lương thưởng - chịu sự điều chỉnh của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 và Nghị định 356/2025/ND-CP, đòi hỏi doanh nghiệp rà soát vai trò kiểm soát dữ liệu, thời hạn lưu trữ (10 năm theo Thông tư 08 đối với dữ liệu hợp đồng trên nền tảng) và quy trình xử lý sự cố với nhà cung cấp.
Tháng 8/2026 chứng kiến một loạt văn bản pháp lý mới ảnh hưởng đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt định hướng chuyển dịch từ thu hút FDI theo số lượng sang chất lượng, ưu tiên bán dẫn, AI, công nghệ số và năng lượng sạch. Thông tư 38/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước cải tổ quản lý ngoại hối cho hoạt động đầu tư nước ngoài, cho phép mở đồng thời tài khoản vốn đầu tư bằng ngoại tệ và VND tại cùng một ngân hàng, và cho phép góp vốn trước khi hoàn tất thủ tục điều chỉnh vốn điều lệ trong một số trường hợp - có hiệu lực từ 18/8/2026. Chính phủ cũng ban hành hàng loạt nghị định quan trọng: Nghị định 302/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch hàng hóa (tăng vốn điều lệ tối thiểu từ 150 tỷ lên 1.500 tỷ đồng, hiệu lực 15/9/2026); Nghị định 314/2026/NĐ-CP thiết lập khung pháp lý đầu tiên cho sàn giao dịch dữ liệu (hiệu lực 25/9/2026); và Nghị định 320/2026/NĐ-CP đơn giản hóa thủ tục cấp tài khoản định danh điện tử (e-ID) cho người nước ngoài, gộp một thủ tục đăng ký duy nhất thay vì phân biệt mức 1 và mức 2 (hiệu lực 28/9/2026). Về minh bạch doanh nghiệp, Nghị định 296/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ 23/7/2026) làm rõ cách xác định chủ sở hữu hưởng lợi cuối cùng (UBO) theo Luật Doanh nghiệp sửa đổi - doanh nghiệp có cơ cấu sở hữu phức tạp hoặc nhiều lớp cổ đông nên rà soát hồ sơ ngay. Việt Nam cũng chính thức gia nhập Công ước Apostille từ 11/9/2026, giúp đơn giản hóa việc hợp pháp hóa giấy tờ nước ngoài, và các Nghị quyết 66.17, 66.18 hướng tới mô hình cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (ERC) trước, rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp có vốn nước ngoài.
Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 330/2026/NĐ-CP, có hiệu lực ngay, quy định khung xử phạt hành chính đối với các vi phạm về an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nghị định này không thay đổi các nghĩa vụ hiện có theo Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 (cùng Nghị định hướng dẫn số 356/2025/NĐ-CP), mà bổ sung mức phạt tiền, chế tài bổ sung và biện pháp khắc phục cụ thể cho từng hành vi vi phạm. Mức phạt được thiết kế theo ba tầng: phạt cố định cho vi phạm thông thường (ví dụ 30-50 triệu đồng cho lỗi thu thập sự đồng ý không hợp lệ), phạt theo mức độ ảnh hưởng (ví dụ 70-100 triệu đồng khi chia sẻ trái phép dữ liệu của hàng trăm khách hàng), và phạt theo doanh thu hoặc khoản lợi bất hợp pháp cho vi phạm nghiêm trọng nhất - lên đến 5% doanh thu năm trước tại thị trường Việt Nam đối với vi phạm chuyển dữ liệu xuyên biên giới nghiêm trọng, hoặc 2-10 lần khoản lợi bất hợp pháp đối với hành vi mua bán dữ liệu cá nhân trái phép. Mức trần cho các vi phạm khác là 3 tỷ đồng. Ngoài phạt tiền, doanh nghiệp có thể bị đình chỉ hoạt động xử lý hoặc chuyển dữ liệu, buộc xóa dữ liệu, công khai cải chính hoặc phải chứng minh việc khắc phục với cơ quan có thẩm quyền. Phạm vi áp dụng rất rộng: gần như mọi doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam đều có khả năng thuộc diện điều chỉnh, kể cả doanh nghiệp không thuộc lĩnh vực công nghệ hay thương mại điện tử, vì dữ liệu cá nhân xuất hiện trong hồ sơ nhân sự, bảng lương, hệ thống CRM/ERP, camera giám sát và các nhà cung cấp dịch vụ thuê ngoài. Lưu trữ dữ liệu trên máy chủ nước ngoài, cho công ty mẹ ở nước ngoài truy cập, hoặc dùng nền tảng HR/CRM toàn cầu cũng có thể bị coi là chuyển dữ liệu xuyên biên giới dù hợp đồng không gọi tên như vậy. Với chủ doanh nghiệp SME và kế toán, Nghị định 330 là lời nhắc rà soát lại việc lập bản đồ dữ liệu, cơ sở pháp lý cho việc thu thập sự đồng ý, hợp đồng với bên xử lý dữ liệu và quy trình xử lý sự cố, vì khoảng cách giữa chính sách trên giấy và thực tế vận hành từ nay có thể bị xử phạt trực tiếp.
Bài viết tổng hợp các quy định mới áp dụng cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong năm 2026, bao gồm visa, giấy phép lao động, hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội và thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Nghị định 219/2025/ND-CP (hiệu lực từ 7/8/2025) thay thế Nghị định 152/2020/ND-CP, quy định lại các vị trí công việc được phép (giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật), quy trình cấp và gia hạn giấy phép lao động (tối đa 2 năm, gia hạn một lần), cũng như các trường hợp được miễn giấy phép lao động như chuyển nhượng nội bộ doanh nghiệp, chủ sở hữu góp vốn đạt ngưỡng vốn quy định, hoặc làm việc dưới 90 ngày/năm. Về bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Nghị định 158/2025/ND-CP (hiệu lực từ 1/7/2025) tiếp tục yêu cầu đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho lao động nước ngoài có hợp đồng lao động từ 12 tháng trở lên (trừ các trường hợp miễn trừ), với mức đóng 8% (người lao động) và 17% (người sử dụng lao động) cho quỹ hưu trí - tử tuất, cộng thêm bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp; lao động nước ngoài không tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Về thuế TNCN, Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15 có hiệu lực từ 1/7/2026 áp dụng biểu thuế lũy tiến 5 bậc cho thu nhập từ tiền lương của cá nhân cư trú, mức giảm trừ gia cảnh mới (15,5 triệu đồng/tháng cho bản thân, 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc), trong khi cá nhân không cư trú chịu thuế suất 20% trên thu nhập phát sinh tại Việt Nam. Doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài cần rà soát lại quy trình xác định cư trú thuế, đăng ký mã số thuế, khấu trừ và quyết toán thuế, cũng như khả năng áp dụng hiệp định tránh đánh thuế hai lần.
Tu ngay 10/9/2026, Nghi dinh 283/2026/ND-CP se thay the Nghi dinh 12/2022/ND-CP, tro thanh khung xu phat hanh chinh moi doi voi cac vi pham ve lao dong, bao hiem xa hoi va cac van de lien quan. Doi voi lao dong nuoc ngoai, nghi dinh moi giu nguyen cac muc phat chinh doi voi hanh vi lam viec khong phep, nhung bo sung nhieu hanh vi vi pham cu the hon nhu khong thong bao, lam viec khong dung vi tri duoc cap phep, khong thu hoi va tra lai giay to, va lam gia ho so xin cap phep. Nguoi lao dong nuoc ngoai lam viec khong co giay phep lao dong hoac giay xac nhan mien giay phep, hoac su dung giay to da het han, co the bi phat tu 15 den 25 trieu dong va bi truc xuat. Doi voi to chuc su dung lao dong, muc phat theo so luong lao dong vi pham dao dong tu 60 den 150 trieu dong (gap doi muc phat ca nhan theo Dieu 7), tuy vao so luong lao dong khong co phep: 1-10 nguoi, 11-20 nguoi, hoac tu 21 nguoi tro len. Rieng hanh vi lam gia ho so xin cap phep co the bi phat toi 120 trieu dong doi voi to chuc. Nghi dinh cung dong bo voi Nghi dinh 219/2025/ND-CP (co hieu luc tu 7/8/2025) ve dieu kien cap, cap lai giay phep lao dong. Doanh nghiep co su dung lao dong nuoc ngoai, dac biet la doanh nghiep FDI voi nhieu chi nhanh va vi tri cong tac, can ra soat lai toan bo ho so lao dong nuoc ngoai truoc ngay 10/9/2026 de tranh rui ro bi xu phat va gian doan hoat dong nhan su.
Văn bản hợp nhất số 12/2026/VBHN-QĐ-BKHCN do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành, gộp Quyết định 30/2018/QĐ-TTg với các sửa đổi tại Quyết định 02/2026/QĐ-TTg (có hiệu lực từ 08/01/2026), quy định trình tự, thủ tục xác nhận hàng hóa sử dụng trực tiếp cho hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ, và phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ của dự án đầu tư. Đây là cơ sở để hàng hóa, phương tiện được xác nhận đủ điều kiện miễn thuế nhập khẩu theo Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Nghị định 134/2016/NĐ-CP. Điểm đáng chú ý cho doanh nghiệp là các sửa đổi năm 2026 cắt giảm, đơn giản hóa hồ sơ: cho phép cơ quan tiếp nhận khai thác dữ liệu điện tử sẵn có (giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, đăng ký doanh nghiệp) thay vì yêu cầu tổ chức, cá nhân nộp bản cứng, và cho phép nộp hồ sơ trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia. Thời hạn xử lý hồ sơ (03 ngày kiểm tra tính hợp lệ, 07-10 ngày trả lời, tối đa 14-20 ngày nếu phải thẩm tra qua hội đồng) về cơ bản giữ nguyên như quy định gốc. Doanh nghiệp có dự án đầu tư liên quan đến ươm tạo công nghệ, đổi mới công nghệ hoặc nhập khẩu phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền sản xuất nên tham chiếu văn bản hợp nhất này khi chuẩn bị hồ sơ xin xác nhận miễn thuế nhập khẩu, thay vì tra cứu riêng lẻ Quyết định 30/2018 và Quyết định 02/2026.
Ngày 08/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 202/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 10/2022/NĐ-CP về lệ phí trước bạ. Điểm sửa đổi chính: đối với ô tô điện chạy pin, mức thu lệ phí trước bạ lần đầu được giữ ở mức 0% kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực cho đến hết ngày 31/12/2030. Việc phân loại ô tô điện chạy pin để áp dụng ưu đãi này phải theo quy định của Bộ Xây dựng. Nghị định cũng bãi bỏ một cụm từ dẫn chiếu tại khoản 8 Điều 1 Nghị định 175/2025/NĐ-CP (liên quan đến Nghị định 51/2025/NĐ-CP) để tránh chồng chéo văn bản. Nghị định 202/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/3/2027 và thay thế Nghị định 51/2025/NĐ-CP ngày 01/3/2025. Đây là tin quan trọng đối với các doanh nghiệp kinh doanh, nhập khẩu, phân phối ô tô điện cũng như các doanh nghiệp có kế hoạch mua sắm xe điện cho đội xe công vụ: chính sách miễn lệ phí trước bạ tiếp tục được duy trì thêm một giai đoạn dài, giúp giảm chi phí sở hữu xe điện và hỗ trợ chiến lược chuyển đổi sang xe không phát thải. Doanh nghiệp cần lưu ý mốc hiệu lực 01/3/2027 khi lập kế hoạch mua xe hoặc tư vấn khách hàng.
Chinh phu vua ban hanh Nghi dinh so 201/2026/ND-CP ngay 8/6/2026, sua doi bieu thue xuat khau doi voi mot so mat hang khoang san thuoc Phu luc I cua Nghi dinh 26/2023/ND-CP. Cac mat hang chiu tac dong gom felspat va khoang chat fluorit (nhom HS 2529) voi thue suat xuat khau pho bien 10%, rieng fluorit chua tren 97% canxi florua chiu thue 5%; va bismut cung san pham tu bismut, phe lieu bismut (nhom HS 8106) voi cac muc thue tu 0% (bismut cement dang bot hoac dang cuc) den 5% (bismut chua gia cong khac) va 22% (phe lieu, vun bismut). Nghi dinh cung dinh nghia ro tieu chuan ky thuat cho san pham «bismut cement» de phan biet voi cac dang bismut khac khi ap ma thue, va cho phep hai quan tien hanh kiem tra sau thong quan neu co nghi van ve nguon goc, quy trinh san xuat hoac chat luong hang xuat khau. Ngoai ra, Nghi dinh thay the mot so cum tu ve co quan quan ly trong Nghi dinh 26/2023/ND-CP: «Bo Ke hoach va Dau tu» duoc thay bang «Bo Tai chinh», «Bo Giao thong van tai» thanh «Bo Xay dung», va «Bo Thong tin va Truyen thong» thanh «Bo Khoa hoc va Cong nghe», phan anh cac dot sap xep lai bo may nha nuoc. Doanh nghiep xuat khau khoang san felspat, fluorit hoac bismut va san pham lien quan can ra soat lai ma HS va muc thue suat moi ap dung tu ngay 23/7/2026 de tinh dung nghia vu thue xuat khau, dac biet luu y phan biet giua bismut cement va cac dang bismut khac vi chenh lech thue suat kha lon (0% so voi 5% hoac 22%).
Văn bản hợp nhất số 14/2026/VBHN-QĐ-BKHCN gộp Quyết định số 18/2019/QĐ-TTg (hiệu lực từ 15/6/2019) với các sửa đổi tại Quyết định số 02/2026/QĐ-TTg (hiệu lực từ 08/01/2026) thành một bản đầy đủ, thống nhất về điều kiện nhập khẩu máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng thuộc mã HS Chương 84 và 85 dùng cho sản xuất tại Việt Nam. Về nội dung, doanh nghiệp nhập khẩu máy móc, thiết bị đã qua sử dụng phải bảo đảm tuổi thiết bị không quá 10 năm (một số ngành có phụ lục riêng, ví dụ cơ khí, chế biến gỗ, giấy có thể lên tới 15-20 năm), đáp ứng quy chuẩn/tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc tiêu chuẩn của nhóm nước G7, Hàn Quốc về an toàn, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường. Đối với dây chuyền công nghệ, tiêu chí bổ sung gồm công suất hoặc hiệu suất còn lại từ 85% trở lên so với thiết kế, mức tiêu hao nguyên vật liệu, năng lượng không vượt quá 15% so với thiết kế, và công nghệ phải đang được sử dụng tại ít nhất 3 cơ sở sản xuất trong khối OECD. Hồ sơ hải quan phải kèm chứng thư giám định do tổ chức giám định được Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ định cấp; cơ quan hải quan chỉ thông quan khi chứng thư kết luận thiết bị đáp ứng tiêu chí. Trường hợp thiết bị vượt tuổi quy định nhưng công suất/hiệu suất còn lại vẫn đạt từ 85% trở lên, doanh nghiệp có thể xin phép nhập khẩu đặc biệt từ Bộ Khoa học và Công nghệ theo mẫu hồ sơ riêng, với thời hạn xử lý xác định rõ. Vì đây là văn bản hợp nhất mang tính rà soát pháp lý, không tạo nghĩa vụ mới ngoài các quy định đã có hiệu lực từ trước, nhưng là tài liệu tham chiếu quan trọng cho doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt doanh nghiệp FDI, khi lập kế hoạch nhập khẩu máy móc cũ, dây chuyền công nghệ cũ để mở rộng hoặc duy trì sản xuất.
Trả lời một hộ kinh doanh cho thuê bất động sản ở nhiều tỉnh với doanh thu ước tính trên 3 tỷ đồng/năm, Bộ Tài chính (Thuế cơ sở 1 tỉnh Ninh Bình) trích dẫn Nghị định 68/2026/ND-CP (ban hành 05/03/2026) và Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 để nêu nguyên tắc kê khai, tính thuế. Theo đó, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng thuộc diện chịu thuế GTGT và tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp: số thuế GTGT phải nộp bằng doanh thu tính thuế nhân với tỷ lệ % theo ngành nghề quy định tại Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15. Về thuế TNCN, cá nhân cho thuê bất động sản (trừ hoạt động kinh doanh lưu trú) nộp thuế theo phần doanh thu vượt trên 500 triệu đồng nhân với thuế suất áp dụng. Nếu có nhiều bất động sản cho thuê trong cùng một tỉnh, thành phố hoặc ở nhiều tỉnh, thành phố khác nhau, cá nhân khai thuế chung trên một hồ sơ và chọn một cơ quan thuế nơi có bất động sản cho thuê để nộp hồ sơ, trừ trường hợp bên thuê là tổ chức đã khai, nộp thuế thay. Mức giảm trừ 500 triệu đồng mỗi năm được phân bổ linh hoạt: cá nhân chọn một hoặc một số hợp đồng để trừ trước, nếu chưa trừ đủ thì tiếp tục chọn hợp đồng khác cho đến khi trừ đủ 500 triệu đồng, nhưng tổng mức trừ không vượt quá 500 triệu đồng một năm cho tất cả hợp đồng. Lưu ý quan trọng: công văn trả lời chỉ giải đáp phần nguyên tắc kê khai và tính thuế GTGT, TNCN theo Nghị định 68/2026/ND-CP, KHÔNG trả lời trực tiếp câu hỏi cụ thể của người hỏi về cách xác định chi phí khấu hao tài sản cố định hình thành từ năm 2020 khi không còn giữ chứng từ gốc, cũng như không đề cập yêu cầu về phát hành hóa đơn. Hộ kinh doanh cần liên hệ trực tiếp cơ quan thuế quản lý để được hướng dẫn cụ thể về xác định nguyên giá tài sản thiếu chứng từ và về hóa đơn.
Bộ Tài chính đã trả lời một tình huống cụ thể về nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) khi cá nhân dùng hợp đồng ủy quyền để giao dịch bất động sản. Cá nhân A là chủ quyền sử dụng đất nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận, nên ủy quyền toàn quyền định đoạt cho cá nhân B; sau khi A được cấp giấy chứng nhận, B nhân danh A ký hợp đồng tặng cho đất cho cá nhân C là vợ của B. Căn cứ Công văn 1133/TCT-TNCN, Công văn 3373/TCT-TNCN và Công văn 3438/TCT-PC ngày 05/8/2024, Bộ Tài chính xác định: nếu hợp đồng ủy quyền trao cho bên nhận ủy quyền đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản theo Bộ luật Dân sự, giao dịch đó được coi là chuyển nhượng bất động sản giữa bên ủy quyền (A) và bên nhận ủy quyền (B), dù không có hợp đồng chuyển nhượng riêng. Do đó A phải kê khai và nộp thuế TNCN 2% trên giá trị chuyển nhượng. Với việc B tặng cho đất cho C (vợ của B), thu nhập từ quà tặng bất động sản giữa vợ chồng thuộc diện miễn thuế theo khoản 4 Điều 4 Luật Thuế TNCN, nên C không phải nộp thuế TNCN 10% nếu có đầy đủ hồ sơ pháp lý chứng minh quan hệ vợ chồng. Nếu C không phải là vợ hợp pháp của B, cả A và C sẽ phát sinh đồng thời nghĩa vụ thuế. Hình thức ủy quyền định đoạt bất động sản rất phổ biến ở Việt Nam khi đất chưa có giấy chứng nhận, nên hướng dẫn này có giá trị tham khảo thực tiễn cao cho cá nhân, nhà đầu tư và kế toán: cơ quan thuế xét bản chất hợp đồng (có trao đủ ba quyền chiếm hữu - sử dụng - định đoạt hay không), không xét tên gọi hình thức của hợp đồng.
Bộ Khoa học và Công nghệ vừa công bố văn bản hợp nhất số 13/2026/VBHN-QĐ-BKHCN, gộp Quyết định số 12/2023/QĐ-TTg (hiệu lực từ 01/7/2023) với Quyết định sửa đổi số 02/2026/QĐ-TTg (hiệu lực từ 08/01/2026, thuộc chương trình cắt giảm thủ tục hành chính của Bộ KH&CN). Văn bản quy định thẩm quyền, hồ sơ và quy trình cấp, cấp lại, sửa đổi Giấy chứng nhận chuyển giao công nghệ khuyến khích chuyển giao - loại giấy tờ cần thiết cho các dự án đầu tư nhận chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục khuyến khích, đặc biệt là dự án muốn hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt theo Điều 20 Luật Đầu tư. Bộ KH&CN cấp giấy chứng nhận cho các dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng, hoặc dự án được hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt; Sở KH&CN cấp tỉnh cấp cho các dự án còn lại tại địa phương. Doanh nghiệp nộp hồ sơ (văn bản đề nghị, bản thỏa thuận chuyển giao công nghệ, thuyết minh nội dung, báo cáo triển khai, giấy tờ pháp lý doanh nghiệp) sau khi đã triển khai và sản xuất ra sản phẩm từ công nghệ chuyển giao. Đợt sửa đổi 2026 rút ngắn đáng kể thời hạn xử lý: 2 ngày xét hồ sơ, 3 ngày thành lập Hội đồng thẩm định, 5 ngày họp thẩm định, 2 ngày ra quyết định - đồng thời bãi bỏ một thành phần hồ sơ và thay mới các mẫu văn bản (Mẫu 01, 08, 09), cho phép cơ quan tiếp nhận khai thác dữ liệu điện tử sẵn có thay vì yêu cầu doanh nghiệp nộp lại giấy tờ. Với SME và nhà đầu tư nước ngoài đang hoặc dự kiến nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, đây là căn cứ pháp lý bắt buộc để được công nhận đủ điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt. Thủ tục được đơn giản hóa giúp giảm thời gian chờ và chi phí tuân thủ, nhưng doanh nghiệp cần chuẩn bị đúng mẫu hồ sơ mới theo Quyết định 02/2026/QĐ-TTg khi nộp đề nghị cấp hoặc sửa đổi giấy chứng nhận.
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 121/2026/TT-BTC ngày 21/8/2026, sửa đổi một số biểu mẫu tại Phụ lục I của Thông tư số 68/2025/TT-BTC quy định biểu mẫu sử dụng trong đăng ký doanh nghiệp và đăng ký hộ kinh doanh. Thông tư thay thế 9 mẫu biểu, bao gồm Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp cho các loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh (Mẫu số 1 đến 5); danh sách chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp (Mẫu số 10); giấy đề nghị đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp (Mẫu số 12); thông báo tạm ngừng/tiếp tục kinh doanh (Mẫu số 27); và thông báo giải thể doanh nghiệp (Mẫu số 30). Đồng thời, Thông tư bãi bỏ Mẫu số 11. Đây là thay đổi mang tính kỹ thuật - cập nhật lại các trường thông tin trên biểu mẫu (ví dụ bổ sung mục kê khai số định danh cá nhân, thông tin chủ sở hữu hưởng lợi, phương thức đóng bảo hiểm xã hội) để phù hợp với các quy định mới về đăng ký doanh nghiệp tại Nghị định số 168/2025/NĐ-CP đã được sửa đổi bởi Nghị định số 296/2026/NĐ-CP. Doanh nghiệp, hộ kinh doanh và các đơn vị tư vấn thành lập doanh nghiệp cần sử dụng đúng mẫu biểu mới khi nộp hồ sơ kể từ ngày Thông tư có hiệu lực. Thông tư có điều khoản chuyển tiếp: hồ sơ đã nộp nhưng chưa được Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chấp thuận trước ngày Thông tư có hiệu lực, nếu đáp ứng các quy định cũ, vẫn được tiếp tục giải quyết theo mẫu biểu cũ. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 21/8/2026.
Một độc giả tại Tây Ninh hỏi Bộ Tài chính về trường hợp bà H.T.T.M: năm 1997 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 36 m² đất thổ cư; đến năm 2019 đo đạc lại phát hiện thửa đất tăng thêm 28 m² (đất trồng cây lâu năm) do thay đổi ranh giới qua các thời kỳ đo đạc, ranh giới ổn định và không tranh chấp. Huyện đã cấp đổi giấy chứng nhận mới với tổng diện tích 64 m² (36 m² đất ở, 28 m² đất trồng cây lâu năm). Bà M nay xin chuyển mục đích sử dụng đất đối với 28 m² tăng thêm sang đất ở. Câu hỏi đặt ra là trường hợp này có thuộc diện được xem xét miễn, giảm tiền sử dụng đất theo Điểm c Khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội hay không. Trả lời, cơ quan thuế trích dẫn nguyên văn Điểm c Khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15: khi chuyển mục đích sử dụng đất đối với đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở đã được công nhận quyền sử dụng đất, hoặc đất tách ra do đơn vị đo đạc, lập bản đồ địa chính trước ngày 01/7/2014 tự đo đạc tách thành thửa riêng sang đất ở, thì tiền sử dụng đất được tính theo mức thu: 30% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và giá đất nông nghiệp đối với diện tích trong hạn mức giao đất ở tại địa phương; 50% đối với phần vượt hạn mức nhưng không quá 01 lần hạn mức; 100% đối với phần vượt quá 01 lần hạn mức. Mức thu này chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cá nhân trên một thửa đất. Trên cơ sở quy định nêu trên, cơ quan thuế (Thuế cơ sở 9 tỉnh Tây Ninh) không khẳng định trực tiếp bà M có được miễn, giảm hay không, mà đề nghị độc giả liên hệ cơ quan có liên quan tại địa phương để được hướng dẫn, giải quyết theo hồ sơ thực tế của người sử dụng đất. Đây là văn bản giải đáp mang tính hướng dẫn áp dụng pháp luật cho một trường hợp cụ thể, không phải văn bản quy phạm pháp luật mới.
Một người dân hỏi Bộ Tài chính về trường hợp thửa đất của mẹ mình (chỉ gồm đất trồng cây lâu năm - CLN và đất bằng trồng cây hàng năm khác - BHK, không có đất ở), tách ra từ năm 2020 theo diện thừa kế, nay muốn chuyển một phần sang đất ở để xây nhà, có được miễn giảm tiền sử dụng đất theo điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 hay không. Cơ quan thuế trả lời rằng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết 254/2025/QH15, chính sách chỉ áp dụng cho trường hợp đất vườn, ao trong cùng thửa đất có đất ở, hoặc đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền với đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất, hoặc do cơ quan đo đạc địa chính tự đo vẽ tách thành thửa riêng trước ngày 01/7/2014. Trong các trường hợp này, tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sang đất ở được tính giảm theo mức: 30% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và giá đất nông nghiệp trong hạn mức giao đất ở tại địa phương; 50% chênh lệch đối với diện tích vượt hạn mức nhưng không quá 1 lần hạn mức; 100% chênh lệch (tức không được giảm) đối với phần vượt quá 1 lần hạn mức. Mức ưu đãi này chỉ tính cho một thửa đất của một hộ gia đình, cá nhân. Nghị định 50/2026/NĐ-CP (ngày 31/01/2026) hướng dẫn chi tiết: việc tính tiền sử dụng đất theo cách trên chỉ áp dụng một lần cho một hộ/cá nhân trên một thửa đất do họ lựa chọn; nếu có nhiều thửa đất đủ điều kiện thì chỉ được chọn một thửa. Cách tính số lần chuyển mục đích, hạn mức giao đất áp dụng từ ngày 01/8/2024. Vì thửa đất của người mẹ trong tình huống nêu hiện chỉ gồm đất CLN, BHK và không có đất ở, nên việc có thuộc diện được miễn giảm theo điểm c khoản 2 Điều 10 hay không phụ thuộc vào nguồn gốc đất, thời điểm tách thửa và hồ sơ địa chính - cụ thể là thửa đất đó trước đây có phải là đất vườn, ao gắn liền với đất ở hay không. Cơ quan thuế đề nghị người dân liên hệ trực tiếp bộ phận một cửa liên thông hoặc cơ quan quản lý đất đai nơi có đất để được hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, thủ tục và xác định chính xác nghĩa vụ tài chính trên cơ sở hồ sơ thực tế.
Một doanh nghiệp hỏi liệu khoản lãi vay mà Công ty TNHH Thép Kyoei Việt Nam trả cho Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) trong giai đoạn từ tháng 7/2014 đến tháng 10/2018 có được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp của thuế nhà thầu theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần Việt Nam - Nhật Bản hay không. Cơ quan thuế trả lời rằng vấn đề cụ thể của công ty đã được Cục Thuế tỉnh Ninh Bình (trước đây) giải đáp tại Công văn số 4448/CT-TTKT3 ngày 05/12/2019, và đề nghị công ty đối chiếu nội dung công văn đó với hồ sơ, tài liệu thực tế phát sinh để thực hiện đúng quy định. Ngoài ra, cơ quan thuế lưu ý nguyên tắc «hưởng lợi Hiệp định» tại khoản 1 Điều 6 Thông tư 205/2013/TT-BTC: cơ quan thuế sẽ từ chối áp dụng Hiệp định trong một số trường hợp, trong đó có trường hợp đề nghị áp dụng Hiệp định cho số thuế đã phát sinh quá 3 năm trước thời điểm đề nghị. Doanh nghiệp có khoản vay hoặc thu nhập xuyên biên giới nên lưu ý thời hạn 3 năm này khi làm hồ sơ xin áp dụng ưu đãi thuế theo Hiệp định.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất và các doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho lớn tại Việt Nam, sự chênh lệch giữa tồn kho thực tế, sổ sách kho, số liệu kế toán và tờ khai thuế có thể tạo ra rủi ro nghiêm trọng về báo cáo tài chính, thuế giá trị gia tăng (VAT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (CIT). Các rủi ro chính bao gồm chênh lệch tồn kho không giải thích được, sai sót trong định giá và phân bổ chi phí sản xuất, kiểm soát kho yếu, và thiếu hồ sơ chứng minh. Rủi ro lớn nhất là bẫy «doanh thu chưa ghi nhận»: khi cơ quan thuế phát hiện tồn kho thực tế thấp hơn sổ sách mà doanh nghiệp không chứng minh được lý do hợp lệ, khoản thiếu hụt sẽ bị coi là doanh thu bán hàng chưa kê khai. Hậu quả là truy thu ngay thuế CIT theo mức 20%, truy thu VAT, phạt chậm nộp 20% và lãi chậm nộp 0,03%/ngày (khoảng 11%/năm). Việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho hư hỏng, lỗi thời để được khấu trừ thuế CIT phải tuân thủ chặt chẽ Thông tư 48/2019/TT-BTC, nếu không sẽ bị cơ quan thuế bác bỏ và truy thu. Ước tính tỷ lệ hoàn thành sản phẩm dở dang (WIP) một cách tùy tiện, thiếu phương pháp nhất quán cũng thường bị thanh tra thuế bác bỏ khi tính giá vốn hàng bán. Doanh nghiệp nên đối chiếu định kỳ giữa kho, sản xuất, kế toán và bán hàng, phân định trách nhiệm rõ ràng, và lưu trữ đầy đủ hồ sơ kiểm kê, đánh giá kỹ thuật để giảm thiểu rủi ro khi bị thanh tra hoặc kiểm toán thuế.