Thông tư 22/2026/TT-BCT do Bộ Công Thương ban hành ngày 29/4/2026, có hiệu lực cùng ngày, quy định quy trình nội bộ để lập kế hoạch, soạn thảo, thẩm định, công bố hoặc ban hành tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) thuộc lĩnh vực do Bộ Công Thương quản lý. Văn bản căn cứ Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (sửa đổi năm 2018 và 2025) và Nghị định số 22/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật này. Về bản chất, đây là văn bản phân công trách nhiệm giữa các đơn vị trong Bộ Công Thương - đặc biệt là Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (đầu mối quản lý hệ thống TCVN, QCVN) và Vụ Pháp chế (thẩm định dự thảo Thông tư ban hành QCVN) - chứ không đặt ra nghĩa vụ tuân thủ mới, trực tiếp cho doanh nghiệp. Thông tư quy định thời hạn lập kế hoạch xây dựng TCVN/QCVN theo chu kỳ 5 năm và hằng năm, trình tự thẩm định qua Hội đồng thẩm định, việc lấy ý kiến Bộ Khoa học và Công nghệ, và thủ tục sửa đổi, bãi bỏ, đính chính các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành. Doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc lĩnh vực Bộ Công Thương quản lý (điện, hóa chất, vật liệu công nghiệp...) không cần hành động gì theo thông tư này, nhưng có thể theo dõi Kế hoạch xây dựng QCVN hằng năm được công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và Cổng thông tin điện tử của Bộ để nắm trước các quy chuẩn kỹ thuật mới có thể yêu cầu chứng nhận hợp quy trong tương lai. Thông tư thay thế Thông tư số 46/2014/TT-BCT ngày 03/12/2014.
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 732/QĐ-TTg ngày 24/4/2026 phê duyệt Chương trình phòng, chống mại dâm giai đoạn 2026-2030, với mục tiêu lấy phòng ngừa làm trọng tâm, gắn với chính sách y tế, việc làm, giảm nghèo và bình đẳng giới. Chương trình hướng đến giảm tệ nạn mại dâm và tác động tiêu cực của nó đến xã hội; tăng cường quản lý địa bàn và môi trường mạng; xử lý nghiêm các vi phạm; và hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm. Đây là văn bản chính sách xã hội - an ninh trật tự không liên quan đến thuế, tài chính doanh nghiệp, kế toán hay hải quan.
Bộ Tài chính hướng dẫn về chính sách thuế GTGT đối với gỗ và sản phẩm từ gỗ có hiệu lực từ 01/7/2025 theo Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 và Nghị định 181/2025/NĐ-CP. Điểm quan trọng: gỗ bị loại khỏi nhóm sản phẩm cây trồng/rừng trồng được hưởng thuế suất 5%, và sản phẩm gỗ đã chế biến chịu thuế suất 10%. Cụ thể: Sản phẩm rừng trồng chỉ qua sơ chế thông thường của đơn vị tự sản xuất bán ra thuộc diện không chịu thuế GTGT. Tuy nhiên gỗ (kể cả gỗ sơ chế thông thường) **không được hưởng thuế suất 5%** vì luật mới loại trừ gỗ khỏi nhóm này; gỗ đã chế biến hoặc được mua bán thương mại chịu **thuế suất 10%**. Ngày 13/4/2026 Bộ Tài chính đã ban hành Công văn 4582/BTC-CST hướng dẫn cụ thể về chính sách thuế GTGT đối với gỗ sơ chế thông thường, gửi đến Cục Thuế các tỉnh, thành phố.
Cơ quan thuế TP. Hồ Chí Minh (Chi cục Thuế khu vực Long Biên - Gia Lâm) hướng dẫn về trường hợp doanh nghiệp quyết toán thuế TNCN năm 2024 vào ngày 25/3/2025 nhưng xuất biên lai khấu trừ thuế cho 11 người lao động vào ngày 15/4/2025, tức là sau thời hạn quyết toán. Theo Nghị định 70/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 125/2020/NĐ-CP, việc xuất biên lai trễ (sau thời điểm quyết toán) có thể bị xử phạt hành chính về thuế. Tuy nhiên, nếu có cơ sở áp dụng Công văn 1992/CT-CS và thực tế không gây thiệt hại về số thuế thì mức xử lý có thể được xem xét linh hoạt. Doanh nghiệp được khuyến nghị chủ động liên hệ cơ quan thuế địa phương để được hướng dẫn cụ thể, xem xét có bị xử phạt không và ở mức nào, đồng thời thực hiện đúng quy định khai thuế điện tử từ kỳ sau.
Bộ Tài chính làm rõ rằng "thành viên Ban kiểm toán nội bộ" tại điểm a khoản 45 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019 tương đương với thành viên Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị (HĐQT) theo điểm b khoản 1 Điều 137 Luật Doanh nghiệp 2020 - tức là thành viên cơ quan quản trị (governance level), không phải nhân sự chuyên trách thuộc bộ phận kiểm toán nội bộ vận hành. Nhân sự chuyên trách tại Bộ phận kiểm toán nội bộ (cấp vận hành) không phải là người nội bộ theo quy định của Luật Chứng khoán, do đó không có nghĩa vụ công bố thông tin giao dịch. Các vấn đề về kiểm toán nội bộ thực hiện theo Nghị định 05/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về kiểm toán nội bộ.
Việt Nam vừa ban hành một loạt chính sách thuế và tài chính mới có hiệu lực trong tháng 5 năm 2026, vừa giảm gánh nặng thuế cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, vừa siết chặt giám sát giao dịch tài chính. Nghị định số 141/2026/ND-CP ngày 29/4/2026, sửa đổi Nghị định số 68/2026/ND-CP, áp dụng hồi tố từ ngày 1/1/2026, nâng ngưỡng doanh thu được miễn thuế cho hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh từ 200 triệu đồng lên 1 tỷ đồng mỗi năm, đồng thời bổ sung ưu đãi miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) cho các doanh nghiệp nhỏ đủ điều kiện. Hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 1 tỷ đồng phải sử dụng hóa đơn điện tử được cơ quan thuế xác thực, kể cả hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền kết nối trực tiếp với cơ quan thuế. Tổng cục Thuế cũng đã ban hành Công văn số 11 yêu cầu các địa phương triển khai ngay các chính sách miễn thuế và hóa đơn điện tử mới. Từ ngày 1/5/2026, các ngân hàng ngừng tự động chia nhỏ các giao dịch chuyển tiền trên 500 triệu đồng để xử lý theo kênh tức thời 24/7, theo quy định tại Thông tư số 40/2024/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về dịch vụ trung gian thanh toán. Các khoản chuyển tiền vượt ngưỡng này giờ đây phải qua kênh xử lý thông thường của ngân hàng; khách hàng vẫn có thể tự chia nhỏ giao dịch nếu muốn xử lý tức thời. Song song đó, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế, đề xuất cấm xuất cảnh đối với cá nhân nợ thuế từ 1 triệu đồng trở lên nếu không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký (địa chỉ ma). Ngân hàng Nhà nước cũng đang lấy ý kiến sửa đổi Nghị định 58/2021 về dịch vụ thông tin tín dụng, yêu cầu các công ty thông tin tín dụng tăng cường an ninh mạng, có phương án dự phòng thảm họa và không được gián đoạn dịch vụ quá 4 giờ làm việc. Doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nên rà soát ngay các quy định mới này để đảm bảo tuân thủ.
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 35/2026/TT-BGDĐT ngày 21/4/2026, hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) đối với các dự án giáo dục phổ thông (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở). Thông tư không áp dụng cho lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên. Văn bản quy định cách tính các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án (giá trị hiện tại ròng kinh tế ENPV, tỷ số lợi ích trên chi phí BCR, tỷ suất nội hoàn kinh tế EIRR); khung lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư theo công thức i = iv + f (trong đó iv là lãi vay huy động vốn tham chiếu từ ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước, f là tỷ lệ lạm phát bình quân CPI 10 năm); các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công trình, cơ sở vật chất trường học do doanh nghiệp dự án cung cấp; và thời hạn trích khấu hao công trình hạ tầng đối với hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), áp dụng theo Thông tư số 23/2023/TT-BTC. Thông tư cũng hướng dẫn phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất lựa chọn nhà đầu tư (đấu thầu rộng rãi, đàm phán cạnh tranh, chỉ định nhà đầu tư, trường hợp đặc biệt), đồng thời ban hành mẫu hợp đồng BOT kèm theo. Có hiệu lực từ ngày 06/6/2026. Đối tượng chịu tác động chủ yếu là nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án (DNDA) tham gia đấu thầu các dự án xây dựng trường học theo phương thức PPP, không phải là quy định thuế, kế toán hay hóa đơn áp dụng chung cho doanh nghiệp SME.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Văn bản hợp nhất số 40/VBHN-NHNN, hợp nhất Thông tư số 45/2018/TT-NHNN (có hiệu lực từ ngày 12/02/2019) về hướng dẫn các tổ chức tín dụng trong cho vay có bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng (QBLTD) cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) theo Nghị định số 34/2018/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 85/2025/TT-NHNN. Văn bản quy định quy trình phối hợp giữa tổ chức tín dụng và QBLTD, nội dung tối thiểu của thỏa thuận phối hợp, nguyên tắc cho vay có bảo lãnh (cho vay bằng đồng Việt Nam, tổ chức tín dụng tự chịu trách nhiệm về quyết định cho vay), và lãi suất cho vay không được cao hơn lãi suất cùng kỳ hạn, cùng ngành, lĩnh vực của bên cho vay. Thông tư 85/2025/TT-NHNN sửa đổi chủ yếu là thay đổi tổ chức bộ máy: bãi bỏ khoản 2 Điều 7, thay cụm từ "Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố" bằng "Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực", và cập nhật trách nhiệm của các đơn vị thuộc NHNN. Đây là văn bản hợp nhất mang tính kỹ thuật, có hiệu lực từ ngày 31/12/2025.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành văn bản hợp nhất số 41/VBHN-NHNN, tổng hợp Thông tư số 21/2024/TT-NHNN (có hiệu lực từ 01/7/2024) và các sửa đổi tại Thông tư số 85/2025/TT-NHNN (có hiệu lực từ 31/12/2025), quy định toàn diện về nghiệp vụ thư tín dụng (L/C) và các hoạt động kinh doanh khác liên quan tại ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Văn bản quy định rõ điều kiện khách hàng phải đáp ứng khi đề nghị phát hành, xác nhận, thương lượng thanh toán hoặc hoàn trả thư tín dụng (năng lực pháp lý, phương án sử dụng vốn khả thi, khả năng tài chính); giới hạn lãi suất áp dụng cho dư nợ quá hạn (tối đa 150% lãi suất trong hạn) và lãi chậm trả (tối đa 10%/năm); yêu cầu ngân hàng phải niêm yết công khai biểu phí; và cho phép thực hiện nghiệp vụ thư tín dụng điện tử với các yêu cầu tối thiểu về an ninh, bảo mật, xác thực giao dịch và lưu trữ hồ sơ khách hàng. Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu và nhà đầu tư nước ngoài, đây là văn bản nền tảng cần nắm khi đàm phán hợp đồng mua bán sử dụng L/C: số tiền cấp tín dụng không được vượt quá giá trị hợp đồng hoặc giá trị thư tín dụng, đồng tiền phát hành phải phù hợp với đồng tiền thanh toán trong hợp đồng, và khách hàng không cư trú chỉ được ngân hàng phát hành hoặc xác nhận L/C khi đáp ứng thêm điều kiện về vốn góp, tài sản bảo đảm hoặc bên thụ hưởng là người cư trú. Thay đổi đáng chú ý nhất trong lần hợp nhất này là quy định về đầu mối tiếp nhận quy định nội bộ nghiệp vụ L/C của ngân hàng (nay là Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực), phản ánh việc tái cơ cấu bộ máy Ngân hàng Nhà nước chứ không phải thay đổi về bản chất nghiệp vụ.
Đây là văn bản hợp nhất do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành ngày 23/01/2026, gộp Thông tư số 22/2014/TT-NHNN cùng ba lần sửa đổi (Thông tư 21/2015, Thông tư 12/2018 và Thông tư 85/2025) vào một văn bản duy nhất để tiện tra cứu. Nội dung hướng dẫn các ngân hàng thương mại cho vay theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP về chính sách phát triển thủy sản, cụ thể là cho vay đóng mới, nâng cấp tàu khai thác hải sản xa bờ và tàu dịch vụ hậu cần nghề cá, cùng vay vốn lưu động phục vụ khai thác hải sản. Văn bản quy định điều kiện vay (tàu đóng mới phải có công suất máy chính từ 400CV trở lên, chủ tàu phải nằm trong danh sách được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt), hạn mức và lãi suất vay (được Ngân sách Nhà nước cấp bù một phần lãi suất theo hướng dẫn của Bộ Tài chính), thời hạn vay, tài sản bảo đảm là chính con tàu được đóng mới hoặc nâng cấp, cơ chế phân loại nợ và xử lý rủi ro khi có nguyên nhân khách quan bất khả kháng, cũng như cơ chế bàn giao khoản nợ vay khi chủ tàu cũ không còn khả năng thực hiện dự án và được thay thế bởi chủ tàu mới. Sửa đổi gần nhất (Thông tư 85/2025/TT-NHNN, hiệu lực từ 31/12/2025) chỉ cập nhật lại tên các đơn vị nội bộ của NHNN chịu trách nhiệm triển khai (Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Vụ Chính sách tiền tệ, Thanh tra NHNN, Cục Quản lý giám sát tổ chức tín dụng, NHNN chi nhánh khu vực) do thay đổi cơ cấu tổ chức bộ máy, không thay đổi nội dung chính sách cho vay. Đây là chính sách tín dụng đặc thù dành riêng cho ngành thủy sản, áp dụng cho chủ tàu cá và các ngân hàng thương mại cho vay theo chương trình này, không phải quy định thuế, kế toán, hóa đơn, hải quan hay lao động áp dụng chung cho doanh nghiệp SME.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa phát hành văn bản hợp nhất số 39/VBHN-NHNN, gộp Thông tư số 01/2016/TT-NHNN (hiệu lực từ 22/02/2016) hướng dẫn chính sách cho vay phát triển công nghiệp hỗ trợ với nội dung sửa đổi tại Thông tư số 85/2025/TT-NHNN (hiệu lực từ 31/12/2025). Đây là văn bản mang tính kỹ thuật, hợp nhất các quy định hiện hành để tiện tra cứu, không tạo ra nghĩa vụ pháp lý mới. Về nội dung cốt lõi (không đổi): tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc danh mục ưu tiên (theo Nghị định 111/2015/NĐ-CP) được áp dụng lãi suất ngắn hạn không vượt trần lãi suất do Thống đốc NHNN quy định theo từng thời kỳ. Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) vay vốn có bảo lãnh của tổ chức bảo lãnh tín dụng hợp lệ (như Quỹ bảo lãnh tín dụng SME hoặc Ngân hàng Phát triển Việt Nam) còn được xem xét vay tối đa 70% vốn đầu tư dự án. Điểm thay đổi từ Thông tư 85/2025/TT-NHNN chủ yếu mang tính tổ chức bộ máy: cập nhật căn cứ pháp lý theo Luật NHNN, Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (số 32/2024/QH15, sửa đổi bởi Luật số 96/2025/QH15) và Nghị định 26/2025/NĐ-CP; đồng thời đổi tên đơn vị đầu mối nhận báo cáo từ «Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng» thành «Cục Quản lý giám sát tổ chức tín dụng» do tái cơ cấu NHNN. SME và doanh nghiệp đầu tư dự án công nghiệp hỗ trợ nên cập nhật địa chỉ gửi báo cáo định kỳ hàng quý (theo Mẫu 01, 02, hạn trước ngày 10 tháng tiếp theo) và tham chiếu đúng căn cứ pháp lý mới khi làm hồ sơ vay vốn hoặc bảo lãnh tín dụng.
Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT đối với hoạt động của doanh nghiệp thu mua phụ phẩm gỗ (vỏ cây nghiền, vỏ cây băm, củi keo băm, dăm gỗ...) từ cá nhân không kinh doanh, rồi bán lại cho doanh nghiệp khác để làm nhiên liệu đốt lò hơi. Theo Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 (sửa đổi bởi Luật 149/2025/QH15) và Nghị định 181/2025/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 359/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ 01/01/2026): Sản phẩm cây trồng, rừng trồng chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường (bao gồm cắt, băm, nghiền, phơi/sấy khô) thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT khi do tổ chức, cá nhân tự sản xuất bán ra. Khi doanh nghiệp mua và bán lại cho doanh nghiệp khác: không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Khi bán cho hộ/cá nhân sản xuất kinh doanh hoặc tổ chức, cá nhân khác: áp dụng thuế suất 5%. Hộ, cá nhân kinh doanh tính thuế trực tiếp khi bán thương mại: tỷ lệ 1% trên doanh thu.
Bộ Tài chính hướng dẫn ba vướng mắc phổ biến trong quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) tại doanh nghiệp: (1) khi người lao động đã ủy quyền nhưng sau quyết toán phát hiện thuộc đối tượng phải tự quyết toán (có số thuế phải nộp thêm); (2) cách ghi chứng từ khấu trừ thuế trong trường hợp này; (3) người lao động phải tự quyết toán lại và eTax Mobile chưa hỗ trợ chức năng này. Theo hướng dẫn từ Bộ Tài chính (dựa trên Thông tư 80/2021/TT-BTC và Nghị định 126/2020/NĐ-CP), doanh nghiệp phải điều chỉnh tờ khai quyết toán thuế TNCN khi phát hiện cá nhân không thuộc đối tượng ủy quyền. Chứng từ khấu trừ ghi số thuế đã khấu trừ/tạm nộp trong năm. Cá nhân phải tự đến cơ quan thuế để thực hiện quyết toán lại nếu ứng dụng chưa hỗ trợ. Doanh nghiệp không bị phạt nộp chậm nếu thực hiện đúng nghĩa vụ khấu trừ và kê khai dựa trên thu nhập thực tế trong kỳ tại doanh nghiệp.
Bộ Tài chính dẫn chiếu khung pháp lý thuế GTGT liên quan đến chi phí EXW (phí vận chuyển nội địa nước ngoài, phí nâng hạ, phí làm hàng tại kho người bán) mà công ty logistics thanh toán cho đối tác nước ngoài rồi thu lại từ khách hàng trong nước. Khoản 3 Điều 9 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định mức thuế suất 10% cho hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện 0% hoặc 5%, trong đó bao gồm cả dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam qua kênh thương mại điện tử và các nền tảng số; Điều 13 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định giá tính thuế GTGT đối với dịch vụ do nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài cung cấp là toàn bộ doanh thu nhận được, kể cả chi phí do bên Việt Nam trả thay. Bộ Tài chính không kết luận trực tiếp rằng 10% áp dụng cho tình huống cụ thể này mà đề nghị doanh nghiệp tự nghiên cứu các quy định nêu trên để tự xác định và thực hiện.
Bộ Tài chính hướng dẫn mức thuế GTGT và TNCN cho hộ kinh doanh Tiếng Vọng Phố (Đà Nẵng) kinh doanh đa ngành: sản xuất lồng đèn tre (mã 3290), dạy làm lồng đèn và pha cà phê (mã 8559, 8552), bán lồng đèn và cà phê (mã 4773, 5630), dịch vụ trải nghiệm chế tác. Theo hướng dẫn từ Cục Thuế Đà Nẵng (ngày 25/6/2014 áp dụng từ 01/7/2014), căn cứ Nghị định 65/2013/NĐ-CP và Luật Thuế TNCN: Dịch vụ trải nghiệm chế tác và pha chế cà phê được xác định là dịch vụ phân phối, cung cấp hàng hóa - GTGT 10%, TNCN 1%. Bán lồng đèn và bịch cà phê - GTGT 10%, TNCN 0,5%. Dạy vẽ và giáo dục nghệ thuật - GTGT 0% (miễn), TNCN 1,5%. Hộ kinh doanh áp dụng phương pháp tính thuế khoán hoặc theo tỷ lệ % trên doanh thu.
Bộ Tài chính xác nhận cách hiểu của Công ty TNHH Dorco Living Vina về Điểm i Khoản 2 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP: Chi phí liên quan đến tài sản cho thuê trong thời gian chưa có khách thuê (bao gồm khấu hao, tiền thuê đất, chi phí quản lý duy trì cơ sở hạ tầng) được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN, với điều kiện tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp. Trường hợp cụ thể: nhà xưởng giai đoạn 2 (xây dựng xong 12/2022, điều chỉnh GCNĐKĐT bổ sung mục tiêu cho thuê ngày 17/01/2025, cho thuê chính thức từ 04/2025). Chi phí từ 17/01/2025 đến 31/03/2025 được tính vào chi phí được trừ năm 2025. Bộ Tài chính đề nghị công ty áp dụng theo quy định và liên hệ cơ quan thuế trực tiếp nếu còn vướng mắc.
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan đối với phần lớn hàng hóa trao đổi giữa Việt Nam và EU, giúp các doanh nghiệp xuất khẩu từ Việt Nam có lợi thế chi phí thực sự tại thị trường châu Âu. Để được hưởng mức thuế ưu đãi này, sản phẩm của doanh nghiệp phải đáp ứng quy tắc xuất xứ của EVFTA - quy tắc xác định sản phẩm có được coi là "sản xuất tại Việt Nam" hay không. Hàng hóa có thể đủ điều kiện nếu được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam (nông sản, khoáng sản, thủy hải sản), đã trải qua quá trình chuyển đổi cơ bản từ nguyên liệu nhập khẩu, hoặc đáp ứng quy tắc riêng theo từng sản phẩm gắn với mã HS (thay đổi phân loại thuế quan, đạt ngưỡng hàm lượng giá trị khu vực tối thiểu, hoặc trải qua công đoạn gia công bắt buộc). Đối với doanh nghiệp, điều này có nghĩa là việc phân loại sản phẩm, tìm nguồn cung ứng và quy trình sản xuất đều cần được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu EVFTA ngay từ đầu. Doanh nghiệp dệt may thường cần tìm nguồn sợi hoặc vải theo quy tắc "từ sợi trở đi" hoặc "từ vải trở đi", nhà sản xuất điện tử cần đạt mức giá trị gia tăng nội địa nhất định hoặc thay đổi phân loại thuế quan, còn doanh nghiệp chế biến thực phẩm cần tìm nguồn nguyên liệu trong nước hoặc thực hiện các công đoạn chế biến theo quy định. Doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần lưu giữ đầy đủ hồ sơ chứng minh: hóa đơn thương mại, chứng từ vận tải, hồ sơ nguồn gốc nguyên liệu, và chứng nhận xuất xứ (giấy chứng nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp, hoặc tự chứng nhận theo cơ chế nhà xuất khẩu được ủy quyền). Những sai sót thường gặp bao gồm phân loại sai mã HS, tính toán xuất xứ không đầy đủ, thiếu hồ sơ chứng từ, và nhà cung cấp có nguyên liệu không đáp ứng quy tắc xuất xứ - tất cả đều có thể dẫn đến việc bị từ chối hưởng thuế ưu đãi, truy thu thuế, hoặc chậm trễ thông quan. Chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng kế toán viên tham gia xuất khẩu sang EU nên đưa việc kiểm tra xuất xứ và hồ sơ chứng từ vào quy trình tuân thủ trước khi xuất hàng, thay vì xử lý vấn đề sau khi hải quan phát hiện.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa công bố Văn bản hợp nhất số 35/VBHN-NHNN (ký ngày 23/01/2026), tổng hợp toàn bộ nội dung của Thông tư số 11/2013/TT-NHNN quy định về cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ, cùng các lần sửa đổi, bổ sung qua Thông tư số 32/2014/TT-NHNN, Thông tư số 25/2016/TT-NHNN và gần nhất là Thông tư số 85/2025/TT-NHNN (hiệu lực từ 31/12/2025). Đây là văn bản hợp nhất mang tính tra cứu, không phải quy định pháp lý mới, giúp người đọc dễ theo dõi toàn bộ lịch sử sửa đổi trong một bản duy nhất. Chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở sử dụng nguồn tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước, áp dụng cho các ngân hàng thương mại nhà nước và một số ngân hàng cổ phần được chỉ định, nhằm hỗ trợ lãi suất cho cá nhân mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội hoặc nhà ở thương mại giá thấp (dưới 15 triệu đồng/m2, dưới 70m2, hoặc tổng giá trị hợp đồng không quá 1,05 tỷ đồng), cũng như hỗ trợ doanh nghiệp là chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội. Lãi suất cho vay tối đa 6%/năm, được điều chỉnh hàng năm; thời hạn áp dụng lãi suất ưu đãi tối đa 15 năm (cá nhân mua nhà), 10 năm (xây, sửa nhà) hoặc 5 năm (doanh nghiệp, hộ gia đình đầu tư nhà ở xã hội). Việc giải ngân tái cấp vốn mới đã chấm dứt từ năm 2016 - chỉ áp dụng cho các hợp đồng tín dụng ký trước ngày 31/03/2016; các ngân hàng nay chỉ còn quản lý và tất toán dư nợ hiện hữu, hạn chót là ngày 01/06/2031. Đối với chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung, văn bản này có tác động thực tế rất hạn chế vì chương trình đã đóng cửa cho vay mới từ năm 2016. Nội dung cập nhật gần nhất tại Thông tư 85/2025/TT-NHNN chủ yếu là cập nhật căn cứ pháp lý theo Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng và Nghị định số 26/2025/NĐ-CP mới, sửa đổi quy trình, thủ tục tái cấp vốn tại Điều 8, và ban hành lại các Phụ lục mẫu công văn - không liên quan đến thuế, kế toán, hóa đơn điện tử, lao động hay hải quan. Doanh nghiệp là chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội còn dư nợ tái cấp vốn cũ, và các ngân hàng thương mại tham gia chương trình, nên lưu ý các mốc thời hạn trả nợ kéo dài đến năm 2031.
Văn bản hợp nhất 29/VBHN-BCT tổng hợp Nghị định 55/2024/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cùng các sửa đổi mới nhất từ Nghị định 137/2026/NĐ-CP về quản lý kinh doanh đa cấp (hiệu lực từ 1/7/2026). Đây là tài liệu tra cứu tổng hợp, bản thân nó không có hiệu lực pháp lý riêng. Đối với doanh nghiệp bán hàng cho người tiêu dùng, văn bản quy định rõ: hợp đồng mẫu và điều kiện giao dịch chung phải dùng tiếng Việt, cỡ chữ tối thiểu 12 nếu giao kết bằng giấy, và phải đăng ký với cơ quan quản lý trước khi áp dụng nếu thuộc danh mục bắt buộc. Khi phát hiện sản phẩm có khuyết tật, doanh nghiệp chỉ có 24 giờ để ngừng bán và 3-5 ngày làm việc để công khai thu hồi tùy mức độ nguy hiểm. Các sàn thương mại điện tử, mạng xã hội lớn (từ 3 triệu tài khoản hoạt động mỗi năm) phải minh bạch thuật toán, gắn nhãn quảng cáo tài trợ và xác thực danh tính người bán khi cơ quan quản lý yêu cầu. Thay đổi lớn nhất là khung pháp lý mới về kinh doanh đa cấp tại Nghị định 137/2026/NĐ-CP, thay thế Nghị định 40/2018/NĐ-CP kể từ 1/7/2026. Doanh nghiệp đa cấp hiện hữu có 12 tháng để đáp ứng điều kiện mới, vẫn phải duy trì ký quỹ tối thiểu 10 tỷ đồng hoặc 5% vốn điều lệ.
Văn bản hợp nhất Thông tư 13/2014/TT-NHNN (đã được sửa đổi bởi Thông tư 85/2025/TT-NHNN) hướng dẫn cho vay theo Quyết định 68/2013/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp. Đối tượng vay là doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình, cá nhân mua máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến nông sản. Thông tư áp dụng cho hợp đồng vay vốn ký trước ngày 31/12/2020. Ngân hàng thương mại cho vay và được hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước theo Quyết định 68. Thông tư 85/2025/TT-NHNN cập nhật cơ cấu tổ chức thực hiện của NHNN (hiệu lực 31/12/2025). Chương trình này liên quan đến tín dụng nông nghiệp và ít ảnh hưởng trực tiếp đến SME trong lĩnh vực thuế, kế toán.
Bộ Tài chính hướng dẫn về điều kiện miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) 3 năm dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) đăng ký kinh doanh lần đầu theo Nghị định 20/2026/NĐ-CP, thực thi Nghị quyết 198/2025/QH15 về phát triển kinh tế tư nhân. Thời gian miễn thuế được tính liên tục từ năm đầu tiên được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Tuy nhiên, ưu đãi không áp dụng cho doanh nghiệp thành lập do sáp nhập, chia tách, hoặc khi người đại diện pháp luật/người có vốn góp cao nhất đã từng là người đại diện/góp vốn cao nhất tại doanh nghiệp khác trong vòng 12 tháng trước khi thành lập doanh nghiệp mới. Doanh nghiệp tự xác định điều kiện ưu đãi và kê khai quyết toán thuế. Trường hợp doanh nghiệp có thời gian hoạt động được miễn thuế dưới 12 tháng trong kỳ tính thuế đầu tiên, được lựa chọn áp dụng ưu đãi ngay kỳ đó hoặc đăng ký bắt đầu từ kỳ tiếp theo.
Bộ Tài chính hướng dẫn về chính sách miễn tiền sử dụng đất liên quan đến dự án khu tái định cư do doanh nghiệp làm chủ đầu tư để phục vụ bố trí tái định cư, không kinh doanh nhà ở. Theo Luật Đất đai 2024 (khoản 8 Điều 118), giao đất không thu tiền sử dụng đất áp dụng cho tổ chức sử dụng đất xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư **theo dự án của Nhà nước**. Đối với người bị thu hồi đất, họ nộp tiền sử dụng đất từ nguồn tiền hỗ trợ giải phóng mặt bằng (Điều 111 Luật Đất đai 2024). Các chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất được quy định tại Điều 18 và 19 Nghị định 103/2024/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 291/2025/NĐ-CP). Bộ Tài chính hướng dẫn đơn vị liên hệ Bộ Nông nghiệp và Môi trường để được giải đáp chi tiết về chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư.
Bộ Tài chính xác nhận: khoản chi thanh toán tiền lương, tiền công từng lần từ **5 triệu đồng trở lên** phải có **chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt** mới được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN, áp dụng kể từ ngày 15/12/2025 (ngày Nghị định 320/2025/NĐ-CP có hiệu lực). Việc xác định "chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt" thực hiện theo Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 quy định chi tiết Luật Thuế GTGT. Quy định này áp dụng theo khoản C Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP - không phân biệt giữa tiền lương với các khoản mua hàng hóa, dịch vụ khác. Căn cứ chính thức là Công văn 218/CST-TN ngày 27/01/2026 của Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí - Bộ Tài chính.
Văn bản này là bản hợp nhất của Nghị định số 146/2025/NĐ-CP (hiệu lực từ 01/7/2025) cùng ba nghị định sửa đổi, bổ sung sau đó: Nghị định 235/2025/NĐ-CP (khuyến công, hiệu lực 15/10/2025), Nghị định 26/2026/NĐ-CP (hóa chất, hiệu lực 17/01/2026) và Nghị định 137/2026/NĐ-CP (kinh doanh đa cấp, hiệu lực 01/7/2026). Nội dung quy định việc chuyển thẩm quyền phê duyệt, cấp phép từ Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương xuống Bộ Công Thương hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trải rộng trên 25 chương bao trùm gần như toàn bộ lĩnh vực Bộ Công Thương quản lý: dầu khí, hóa chất, xúc tiến thương mại, xăng dầu, khí LPG/LNG/CNG, thuốc lá, rượu, chợ, vật liệu nổ công nghiệp, an toàn điện, an toàn vệ sinh lao động, xuất nhập khẩu, hoạt động mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm hàng hóa, điện lực, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thương mại điện tử, sử dụng năng lượng tiết kiệm, khoáng sản, công nghiệp hỗ trợ và ô tô. Đối với doanh nghiệp đang hoạt động trong các ngành nghề có điều kiện nêu trên, thay đổi quan trọng nhất là cơ quan tiếp nhận và giải quyết hồ sơ: nhiều loại giấy phép, giấy chứng nhận trước đây do Bộ Công Thương hoặc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (ví dụ giấy phép sản xuất, phân phối rượu, giấy chứng nhận xuất nhập khẩu LPG/LNG/CNG, giấy phép chế biến nguyên liệu thuốc lá) nay do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện. Trình tự, thủ tục chi tiết nằm tại 16 phụ lục kèm theo nghị định gốc, nên doanh nghiệp cần tra đúng phụ lục ứng với ngành nghề của mình để xác định cơ quan có thẩm quyền mới, tránh nộp hồ sơ sai địa chỉ. Nghị định cũng quy định nguyên tắc chung: cơ quan được phân cấp tự chịu trách nhiệm, ngân sách nhà nước bảo đảm nguồn lực thực hiện, và các thủ tục có thu phí, lệ phí vẫn áp dụng quy định hiện hành. Khung phân quyền, phân cấp này có hiệu lực đến hết ngày 01/3/2027, trừ khi được luật hoặc nghị quyết của Quốc hội gia hạn, hoặc bị thay thế sớm hơn bởi văn bản mới trong lĩnh vực tương ứng.
Thông tư 20/2026/TT-BCT (ban hành 17/4/2026, hiệu lực từ 02/6/2026) sửa đổi Thông tư 10/2025/TT-BCT về phương pháp tính biểu giá chi phí tránh được áp dụng cho các nhà máy điện năng lượng tái tạo nhỏ, chủ yếu là thủy điện nhỏ, khi ký hợp đồng mua bán điện với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Các thay đổi chính gồm: định nghĩa lại mùa mưa và mùa khô theo ranh giới hệ thống điều độ điện lực miền thay vì địa giới hành chính, để không bị ảnh hưởng bởi việc sáp nhập tỉnh; chuyển thẩm quyền từ «cơ quan quản lý nhà nước về điện tại Bộ Công Thương» sang «Cục Điện lực thuộc Bộ Công Thương»; cập nhật Điều 3 mẫu hợp đồng mua bán điện; và ban hành lại toàn bộ phương pháp tính giá (thay Phụ lục II) gồm chi phí điện năng tránh được, tổn thất truyền tải tránh được và giá công suất tránh được. Đây là quy định chuyên ngành năng lượng dành cho chủ đầu tư, vận hành nhà máy điện tái tạo nhỏ và EVN, không có nội dung liên quan đến thuế GTGT, thuế TNDN, hóa đơn điện tử, chuẩn mực kế toán, lao động hay hải quan nên ít liên quan trực tiếp đến phần lớn doanh nghiệp SME và kế toán viên là đối tượng chính của RegHub.
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 18/2026/QĐ-TTg ngày 18/4/2026 quy định chi tiết thi hành Nghị quyết 70/2025/UBTVQH15 (sửa đổi bởi Nghị quyết 120/2026/UBTVQH15) về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư công từ ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030. Quyết định quy định chi tiết Điều 3, 4, 8 và 9 của Nghị quyết 70, bao gồm các tiêu chí phân bổ như: dân số (gồm số dân bình quân và người dân tộc thiểu số), trình độ phát triển kinh tế-xã hội của từng tỉnh. Đây là căn cứ pháp lý để phân bổ vốn ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương. Văn bản này liên quan đến quản lý ngân sách nhà nước và đầu tư công, không có ảnh hưởng trực tiếp đến nghĩa vụ thuế doanh nghiệp.
Bộ Tài chính làm rõ rằng chính sách tính tiền sử dụng đất ưu đãi theo điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết 254/2025/QH15 và Điều 6 Nghị định 50/2026/NĐ-CP áp dụng một lần cho một hộ gia đình, cá nhân sử dụng hợp pháp thửa đất có nguồn gốc là đất vườn, ao trong cùng thửa đất ở hoặc đất vườn ao gắn liền đất ở. Câu hỏi đặt ra là liệu người nhận thừa kế (kể cả thừa kế thế vị hàng thứ nhất) hoặc được tặng cho từ hàng thừa kế thứ nhất có thuộc đối tượng được hưởng mức thu ưu đãi này không. Bộ Tài chính chỉ dẫn người hỏi căn cứ quy định của pháp luật và hồ sơ cụ thể để thực hiện đúng, không có câu trả lời khẳng định hoặc phủ định trực tiếp trong văn bản này. Đây là vấn đề thực tiễn phát sinh khi Nghị quyết 254 áp dụng: chính sách chỉ tính một lần trên một thửa đất do hộ gia đình, cá nhân lựa chọn, và điều kiện thụ hưởng là việc sử dụng đất hợp pháp theo quy định pháp luật.
Bộ Công Thương ban hành Thông tư 21/2026/TT-BCT ngày 28/4/2026, có hiệu lực ngay từ ngày 29/4/2026, bãi bỏ cụm từ "dầu hỏa" tại khoản 2 Điều 1 của Thông tư 18/2025/TT-BCT về kinh doanh xăng dầu. Việc bãi bỏ này được thực hiện theo Kết luận số 14-KL/TW ngày 20/3/2026 của Bộ Chính trị về bảo đảm nguồn cung và ổn định giá nhiên liệu. Sự thay đổi có nghĩa là dầu hỏa không còn thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định sửa đổi tại Thông tư 18/2025. Đây là văn bản kỹ thuật pháp lý liên quan đến ngành kinh doanh xăng dầu, có thể ảnh hưởng đến các doanh nghiệp phân phối và kinh doanh xăng dầu nhưng không trực tiếp liên quan đến thuế hay kế toán doanh nghiệp thông thường.
Bộ Tài chính (qua Cục Thuế Tây Ninh) hướng dẫn về phương pháp tính thuế GTGT và TNCN cho hộ kinh doanh đăng ký từ tháng 10/2025, đã lựa chọn phương pháp tỷ lệ % trên doanh thu từ đầu. Nếu đến hết năm 2026 tổng doanh thu vượt 3 tỷ đồng, hộ kinh doanh có được tiếp tục áp dụng phương pháp này không? Theo Nghị định số 141/2026/NĐ-CP ngày 06/12/2026 và Luật Thuế GTGT, Luật Quản lý thuế: Hộ kinh doanh đã lựa chọn phương pháp tỷ lệ % trên doanh thu từ năm trước thì tiếp tục áp dụng phương pháp này cho cả năm 2026, kể cả khi doanh thu vượt 3 tỷ đồng trong năm đó. Chỉ từ năm tính thuế tiếp theo mới phải xem xét chuyển sang phương pháp khác nếu đủ điều kiện. Cục Thuế Tây Ninh trả lời để ông Nguyễn Văn Hải biết và thực hiện.
Bộ Tài chính hướng dẫn về ưu đãi thuế TNDN cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KHCN) đã được cấp giấy chứng nhận từ 2017 nhưng chưa áp dụng ưu đãi, nay muốn hưởng phần còn lại từ năm 2025. Theo Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15, doanh nghiệp KHCN được áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Điều 68 Nghị định 268/2025/NĐ-CP xác nhận: doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KHCN nhưng chưa hưởng ưu đãi thì tiếp tục được hưởng cho thời gian còn lại. Cần lưu ý điều kiện cấp Giấy đã thay đổi theo Nghị định 268/2025/NĐ-CP (thẩm quyền cấp chuyển về UBND tỉnh; thêm điều kiện về chi cho R&D và nhân lực KHCN). Doanh nghiệp cần căn cứ vào hồ sơ thực tế và liên hệ cơ quan thuế trực tiếp để xác định thời gian ưu đãi còn lại và điều kiện áp dụng.
Bộ Tài chính hướng dẫn đơn vị sự nghiệp nhóm 3 cách xử lý số dư nguồn hình thành tài sản cố định (TSCĐ) được mua từ nguồn thu dịch vụ trước ngày 31/12/2024, trong bối cảnh chuyển đổi từ Thông tư 107/2017/TT-BTC sang Thông tư 24/2024/TT-BTC. Theo Thông tư 107/2017, giá trị còn lại của TSCĐ được theo dõi trên các tài khoản riêng biệt theo từng nguồn (TK 3661, TK 3662, TK 3663, TK 43142, TK 421...). Đơn vị cần xác định tài khoản đang phản ánh giá trị còn lại của TSCĐ mua từ nguồn thu dịch vụ tại thời điểm 31/12/2024. Việc không theo dõi trên TK 366 không có nghĩa là không có nguồn - đơn vị phải xác định tài khoản kế toán đang theo dõi giá trị còn lại đó, sau đó kết chuyển sang TK 421 và tiếp tục hạch toán theo Thông tư 24/2024/TT-BTC từ năm tài chính 2025.
Văn bản hợp nhất này tích hợp Thông tư 27/2015/TT-NHNN và sửa đổi tại Thông tư 85/2025/TT-NHNN, hướng dẫn chính sách cho vay không có tài sản bảo đảm cho hộ gia đình để trồng rừng sản xuất (cây lấy gỗ, lâm sản ngoài gỗ) và phát triển chăn nuôi theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP về bảo vệ và phát triển rừng gắn với giảm nghèo giai đoạn 2015-2020. Chính sách áp dụng qua hai kênh ngân hàng: Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Lãi suất ưu đãi là 1,2%/năm. Hợp đồng vay vốn được ký đến hết ngày 31/12/2020 và các thỏa thuận đã ký tiếp tục có hiệu lực đến khi hết hạn. Thông tư 85/2025/TT-NHNN (có hiệu lực từ 31/12/2025) đã bãi bỏ Điều 8 và các biểu mẫu đính kèm, đồng thời cập nhật trách nhiệm tổ chức thực hiện của NHNN theo cơ cấu tổ chức mới.
Thông tư 17/2026/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ (hiệu lực từ 16/4/2026) ban hành Điều lệ mẫu cho các Quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do các Bộ, cơ quan trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập. Đây là văn bản mang tính tổ chức nội bộ, quy định cách các quỹ nhà nước này vận hành: cơ cấu (Hội đồng quản lý Quỹ, Cơ quan điều hành, Ban Kiểm soát), nguồn tài chính, quy trình tài trợ, đặt hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ, và cơ chế quản trị rủi ro. Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu, ứng dụng hoặc chuyển giao công nghệ, văn bản này đáng chú ý ở điểm: các quỹ này có thể tài trợ kinh phí, hỗ trợ lãi suất vay cho hoạt động đổi mới công nghệ, và có cơ chế đồng tài trợ - trong đó doanh nghiệp tham gia nhiệm vụ có khả năng thương mại hóa phải góp một phần kinh phí, với tỷ lệ đồng tài trợ tăng dần theo mức độ trưởng thành công nghệ. Đây có thể là một kênh huy động vốn hỗ trợ cho hoạt động R&D của doanh nghiệp. Tuy nhiên, Thông tư không đặt ra nghĩa vụ thuế, hóa đơn, lao động hay hải quan mới cho doanh nghiệp - đây thuần túy là quy định về tổ chức và quản lý nội bộ của quỹ nhà nước. Doanh nghiệp quan tâm đến tài trợ khoa học công nghệ nên theo dõi Điều lệ cụ thể do quỹ thuộc Bộ hoặc địa phương liên quan ban hành để biết thủ tục nộp hồ sơ đề nghị tài trợ.