Đây là văn bản hợp nhất Thông tư số 23/2024/TT-BCT ngày 07/11/2024 của Bộ Công Thương (có hiệu lực từ 01/01/2025), được sửa đổi bởi Thông tư số 38/2025/TT-BCT (hiệu lực từ 01/7/2025) và Thông tư số 15/2026/TT-BCT (hiệu lực từ 10/4/2026). Văn bản quy định việc quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ thuộc thẩm quyền của Bộ Công Thương, áp dụng cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, vận chuyển, bảo quản và sử dụng các loại vật liệu này (chủ yếu là doanh nghiệp khai khoáng, xây dựng và dịch vụ nổ mìn). Nội dung chính gồm: Danh mục vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ được phép lưu hành; phân định thẩm quyền cấp, cấp lại, cấp điều chỉnh giấy phép/giấy chứng nhận giữa Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp, Cục Hóa chất và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; quy trình đăng ký sản phẩm vật liệu nổ mới; và việc xây dựng, vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ. Doanh nghiệp trong ngành phải thực hiện đánh giá nguy cơ rủi ro an toàn, lập phương án và hộ chiếu nổ mìn, xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp, và báo cáo định kỳ 6 tháng/năm (trước ngày 18-20 tháng 6 và tháng 12) cùng báo cáo đột xuất khi xảy ra sự cố. Đây là quy định chuyên ngành về an toàn và cấp phép vật liệu nổ, không liên quan đến thuế, kế toán, hóa đơn điện tử, lao động hay hải quan, nên chỉ có ý nghĩa với số ít doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai khoáng, xây dựng công trình có nổ mìn và kinh doanh hóa chất tiền chất thuốc nổ.
Gỗ xẻ tươi và gỗ xẻ sấy từ rừng trồng mới qua sơ chế thông thường (cưa, xẻ, sấy) được miễn thuế GTGT khi tổ chức tự sản xuất bán ra hoặc doanh nghiệp/HTX bán cho doanh nghiệp/HTX khác ở khâu thương mại. Thuế suất 5% áp dụng khi doanh nghiệp/HTX (khấu trừ) bán cho hộ kinh doanh hoặc cá nhân/tổ chức khác; cơ sở nộp thuế trực tiếp tính 1% trên doanh thu. Chỉ khi gỗ đã qua chế biến thành sản phẩm khác mới chịu thuế suất 10%.
Cục Hải quan trả lời câu hỏi về cách xử lý khi doanh nghiệp được cơ quan hải quan thông báo có nhiều tờ khai nhập khẩu năm 2024 và 2025 bị xác định sai mã HS, dẫn đến sai thuế GTGT (từ 10% giảm xuống 8%) và thuế nhập khẩu (từ 3% tăng lên 5%). Doanh nghiệp đã nộp bổ sung thuế nhập khẩu nhưng chưa biết xử lý phần thuế GTGT nộp thừa. Cục Hải quan hướng dẫn: Căn cứ khoản 1 Điều 60 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, số tiền thuế GTGT nộp thừa được xử lý theo 3 cách: (1) bù trừ với các khoản thuế còn nợ khác; (2) trừ vào lần nộp thuế tiếp theo; hoặc (3) hoàn trả khi doanh nghiệp không còn nợ thuế. Khi bù trừ với khoản còn nợ, không tính tiền chậm nộp cho khoản thời gian từ ngày phát sinh nộp thừa đến ngày bù trừ. Đặc biệt, đối với thuế GTGT được hoàn qua hải quan, doanh nghiệp phải kê khai điều chỉnh với cơ quan thuế (thuế nội địa) về số thuế GTGT đã khấu trừ trước khi đề nghị hoàn tại hải quan. Sau khi ban hành quyết định hoàn thuế, cơ quan hải quan thông tin cho cơ quan thuế.
Văn phòng Quốc hội vừa công bố bản hợp nhất số 90/VBHN-VPQH của Luật Xử lý vi phạm hành chính (Luật số 15/2012/QH13), gộp toàn bộ 9 lần sửa đổi từ năm 2014 đến nay, gần nhất là Luật số 88/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/7/2025) và các thay đổi sắp có hiệu lực từ 01/7/2026 theo Luật An ninh mạng và Luật Phòng, chống ma túy. Đây là bản văn tham chiếu đầy đủ, không phải văn bản pháp luật mới, nhưng là căn cứ pháp lý gốc cho mọi quyết định xử phạt hành chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải. Một số nội dung quan trọng với chủ doanh nghiệp và kế toán: mức phạt tiền đối với tổ chức luôn gấp 2 lần mức phạt đối với cá nhân cho cùng hành vi. Mức phạt tối đa theo lĩnh vực được quy định cụ thể, ví dụ kế toán, hóa đơn, phí - lệ phí, dự trữ quốc gia tối đa 50 triệu đồng; hải quan và thủ tục thuế tối đa 100 triệu đồng; riêng lĩnh vực thuế, kiểm toán độc lập, chứng khoán, cạnh tranh, bảo vệ dữ liệu cá nhân thì áp dụng mức phạt theo luật chuyên ngành tương ứng chứ không theo khung của luật này. Thời hiệu xử phạt là 1 năm cho vi phạm thông thường, riêng vi phạm về kế toán, hóa đơn, phí - lệ phí, chứng khoán, sở hữu trí tuệ... là 2 năm; vi phạm về thuế và kiểm toán độc lập áp dụng thời hiệu theo pháp luật quản lý thuế, pháp luật kiểm toán độc lập. Luật cũng quy định 5 hình thức xử phạt (cảnh cáo, phạt tiền, tước giấy phép/đình chỉ hoạt động có thời hạn, tịch thu tang vật - phương tiện, trục xuất), các tình tiết giảm nhẹ - tăng nặng, các trường hợp không bị xử phạt (sự kiện bất khả kháng, phòng vệ chính đáng...), và các hành vi bị nghiêm cấm đối với người có thẩm quyền xử phạt (sách nhiễu, nhận tiền, bao che). Doanh nghiệp nên lưu bản hợp nhất này làm tài liệu tra cứu khi làm việc với cơ quan thuế, hải quan hoặc thanh tra chuyên ngành, vì đây là căn cứ xác định mức phạt, thời hiệu và quyền khiếu nại của mình.
Nghị định số 105/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công đoàn số 50/2024/QH15 về tài chính công đoàn, bao gồm: phương thức và thời hạn đóng kinh phí công đoàn, các trường hợp miễn, giảm, tạm dừng đóng, và quản lý kinh phí công đoàn của tổ chức người lao động tại doanh nghiệp. Đối tượng áp dụng gồm doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập không hưởng 100% lương từ ngân sách nhà nước, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động. Hầu hết đơn vị đóng kinh phí công đoàn mỗi tháng một lần cùng thời điểm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; riêng các tổ chức, doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo chu kỳ sản xuất có thể đăng ký đóng 03 tháng một lần. Quá 60 ngày kể từ ngày hết hạn mà chưa đóng đủ thì bị coi là không đóng kinh phí công đoàn. Trường hợp khó khăn đã hết thời gian tạm dừng và tiếp tục phải cắt giảm lao động theo ngưỡng quy định, doanh nghiệp có thể được giảm tối đa 20% mức đóng trong thời gian không quá 06 tháng.
Ngày 02/4/2026, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng đã ký Quyết định số 604/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, thay thế Quyết định số 569/QĐ-TTg năm 2022. Chiến lược mới đặt doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, với mục tiêu đến năm 2030 tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển đạt tối thiểu 2% GDP, tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt tối thiểu 50%, và hình thành 5-10 doanh nghiệp công nghệ quy mô khu vực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, dữ liệu lớn. Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Chiến lược nêu một số định hướng chính sách đáng chú ý: cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho công nghệ và mô hình kinh doanh mới (AI, blockchain, tài sản số, thiết bị bay không người lái); ưu đãi vượt trội về thuế và tín dụng cho doanh nghiệp công nghệ dẫn dắt; thành lập Quỹ đầu tư phát triển công nghiệp chiến lược; và ưu tiên mua sắm công cho sản phẩm «Make in Viet Nam». Nhà nước cũng khuyến khích doanh nghiệp đồng tài trợ tối thiểu 30% kinh phí cho các nhiệm vụ ứng dụng công nghệ. Đây là văn bản định hướng chiến lược mang tính vĩ mô, chưa quy định cụ thể mức thuế suất, thủ tục hay thời hạn tuân thủ bắt buộc đối với từng doanh nghiệp - các cơ chế ưu đãi thuế, tín dụng, sandbox sẽ được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật riêng trong thời gian tới. Doanh nghiệp công nghệ cao và R&D nên theo dõi các văn bản hướng dẫn tiếp theo của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính để nắm bắt cơ hội tiếp cận vốn ưu đãi và tham gia các chương trình đặt hàng công nghệ chiến lược.
Nghị định số 100/2026/NĐ-CP (ban hành ngày 31/3/2026) sửa đổi, bổ sung Nghị định số 65/2023/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, nhằm cụ thể hóa các nội dung mới của Luật số 131/2025/QH15. Điểm đáng chú ý nhất là quy định lần đầu tiên về quyền sở hữu đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp do trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ tạo ra: chỉ được cấp văn bằng bảo hộ nếu con người chứng minh có «đóng góp đáng kể» theo 4 tiêu chí cụ thể (xác định vấn đề, chọn dữ liệu đầu vào, tinh chỉnh kết quả AI, quyết định kết quả cuối cùng); nếu không đáp ứng, người tạo ra chỉ có quyền sử dụng, không được độc quyền. Nghị định cũng bổ sung cơ chế thẩm định nội dung nhanh cho đơn sáng chế thuộc công nghệ chiến lược hoặc phục vụ tình huống khẩn cấp, và đơn nhãn hiệu bắt buộc để được cấp phép kinh doanh - giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian chờ cấp văn bằng. Song song, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về sở hữu công nghiệp, hệ thống quản lý chỉ dẫn địa lý, và cơ sở dữ liệu giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ (phục vụ định giá khi doanh nghiệp góp vốn, thế chấp bằng quyền sở hữu trí tuệ), cùng yêu cầu các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đầu tư hệ thống tự động phát hiện, xử lý xâm phạm trên mạng. Đối tượng chịu tác động chính là doanh nghiệp công nghệ, trung tâm R&D, chủ sở hữu sáng chế/nhãn hiệu, và nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến khung pháp lý bảo hộ IP tại Việt Nam. Doanh nghiệp sử dụng AI trong nghiên cứu phát triển nên lưu hồ sơ chứng minh vai trò sáng tạo của con người để bảo vệ khả năng đăng ký sáng chế sau này. Lưu ý: tài liệu nguồn dùng để biên soạn bài viết bị cắt trước điều khoản hiệu lực thi hành, nên ngày có hiệu lực chưa được xác nhận trong bài viết này.
Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, vừa được hợp nhất thành Văn bản hợp nhất số 92/VBHN-VPQH, tổng hợp các sửa đổi, bổ sung từ 19 luật liên quan ban hành đến cuối năm 2025, gồm Luật Giá, Luật Giao dịch điện tử, Luật Viễn thông, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Năng lượng nguyên tử, Luật An ninh mạng và Luật Việc làm. Luật quy định danh mục phí, lệ phí áp dụng thống nhất trên cả nước; nguyên tắc xác định mức thu (phí nhằm cơ bản bù đắp chi phí dịch vụ, còn lệ phí là khoản tiền ấn định trước không nhằm bù đắp chi phí); đối tượng phải nộp, cơ quan được thu; và cách quản lý, sử dụng số tiền thu được, phần lớn nộp vào ngân sách nhà nước, một phần có thể để lại cho đơn vị sự nghiệp công lập để trang trải chi phí cung cấp dịch vụ. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, đây là văn bản pháp lý gốc chi phối hàng trăm loại phí, lệ phí phải nộp khi xin cấp phép, đăng ký kinh doanh, xin chứng chỉ hành nghề, hoặc làm thủ tục xuất nhập khẩu, ra vào cảng. Phụ lục kèm theo liệt kê chi tiết từng khoản lệ phí (ví dụ: lệ phí cấp giấy phép nhập khẩu, chứng chỉ hành nghề, đăng ký đầu tư ra nước ngoài, ra vào cảng biển, cảng hàng không) cùng cơ quan có thẩm quyền quy định mức thu, chủ yếu là Bộ Tài chính. Một số mục trong danh mục vừa được cập nhật theo các luật mới ban hành năm 2025, có hiệu lực từ 01/01/2026 hoặc 01/07/2026, bổ sung lệ phí liên quan năng lượng nguyên tử, an ninh mạng và đánh giá kỹ năng nghề quốc gia. Do đây là văn bản hợp nhất mang tính tổng hợp, không phải luật ban hành mới, doanh nghiệp không cần thực hiện hành động gấp, nhưng nên tham khảo để nắm quy định hiện hành đầy đủ, chính xác nhất về các khoản phí, lệ phí áp dụng cho ngành nghề, hoạt động của mình.
Tổng cục Thuế hướng dẫn cách ghi thông tin người mua trên hóa đơn điện tử khi khách hàng cá nhân không cung cấp đủ thông tin nhận dạng. Căn cứ pháp lý chính là khoản 7 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 123/2020/NĐ-CP về hóa đơn, chứng từ. Theo hướng dẫn, khi khách hàng cá nhân mua hàng để tiêu dùng (không kinh doanh) mà không cung cấp thông tin (tên, địa chỉ, MST, CCCD), người bán được phép để trống hoặc ghi thông tin không đầy đủ theo mức độ khách hàng cung cấp (ví dụ chỉ có tên và tỉnh/thành phố). Cơ quan thuế yêu cầu doanh nghiệp tuân thủ quy định hiện hành và hướng dẫn cụ thể của cơ quan thuế quản lý trực tiếp khi cần làm rõ thêm.
Văn bản hợp nhất số 89/VBHN-VPQH tổng hợp Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 (hiệu lực từ năm ngân sách 2026) với nội dung sửa đổi tại Luật Dự trữ quốc gia số 145/2025/QH15 (hiệu lực từ ngày 01/7/2026). Đây là luật khung quy định toàn bộ quy trình lập, chấp hành, kiểm toán, quyết toán, công khai và giám sát ngân sách nhà nước ở cả cấp trung ương và địa phương (tỉnh, xã). Với doanh nghiệp và kế toán viên, phần đáng chú ý nhất là Điều 36 quy định tỷ lệ phân chia nguồn thu thuế giữa ngân sách trung ương và địa phương: thuế giá trị gia tăng (VAT) chia theo tỷ lệ 70% trung ương - 30% địa phương; thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ dầu khí và thuế tối thiểu toàn cầu) và thuế thu nhập cá nhân thuộc nhóm nguồn thu phân chia theo tỷ lệ %; thuế xuất nhập khẩu và thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế thuế tối thiểu toàn cầu (Trụ cột 2) thuộc 100% ngân sách trung ương. Luật cũng quy định nguyên tắc cân đối ngân sách, giới hạn vay nợ của ngân sách địa phương, mức dự phòng ngân sách (2%-5%) và liệt kê 12 nhóm hành vi bị cấm trong lĩnh vực ngân sách. Nhìn chung, đây là văn bản mang tính nền tảng về quản lý tài chính công hơn là quy định trực tiếp nghĩa vụ kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp - các nghĩa vụ thuế cụ thể vẫn do Luật Quản lý thuế, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp... điều chỉnh. Tuy nhiên, thông tin về cách phân bổ nguồn thu và ưu tiên chi đầu tư công hữu ích cho việc đánh giá chính sách tài khóa và cơ hội đầu tư công liên quan đến doanh nghiệp.
Nghị định 112/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 quy định về cơ chế trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon với đối tác quốc tế, nhằm thực hiện Thỏa thuận Paris. Đây là cơ chế thực hiện Điều 6.2 và 6.4 của Thỏa thuận Paris về hợp tác quốc tế giảm phát thải. Nghị định áp dụng cho cơ quan và tổ chức thực hiện trao đổi quốc tế tín chỉ carbon. Nội dung quy định về đăng ký dự án, thẩm định, chuyển giao quốc tế và giám sát. Đây là văn bản về biến đổi khí hậu và môi trường, không liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ thuế hoặc hóa đơn của doanh nghiệp SME thông thường.
Nghị định số 101/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 31/3/2026, hướng dẫn chi tiết Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 sau khi được sửa đổi bởi Luật số 115/2025/QH15 và Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15. Nghị định quy định thẩm quyền, hồ sơ, trình tự thẩm định hoặc cho ý kiến về công nghệ trong dự án đầu tư có sử dụng công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao hoặc có nguy cơ tác động xấu đến môi trường, áp dụng ở các giai đoạn chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và quyết định đầu tư. Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp quy mô lớn triển khai dự án có yếu tố công nghệ nhạy cảm, hồ sơ dự án bắt buộc phải có nội dung giải trình chi tiết về công nghệ sử dụng (nguồn gốc, sơ đồ quy trình, rủi ro, biện pháp kiểm soát). Kết quả thẩm định được xếp vào một trong ba mức «Đạt», «Chưa đạt» hoặc «Không đạt», ảnh hưởng trực tiếp đến việc dự án có được chấp thuận hay không. Nghị định cũng quy định giá, phương thức thanh toán chuyển giao công nghệ (gồm cách tính giá bán tịnh loại trừ thuế giá trị gia tăng, và yêu cầu thẩm định giá khi các bên liên kết theo pháp luật thuế chuyển giao công nghệ cho nhau), đăng ký chuyển giao công nghệ, và nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ hỗ trợ, ưu đãi đã hưởng nếu Giấy chứng nhận đăng ký bị hủy hiệu lực. Ngoài ra, tổ chức, cá nhân tự nghiên cứu hoặc đầu tư tạo ra công nghệ có thể chủ động nộp hồ sơ xin thẩm định tại cơ quan khoa học công nghệ cấp tỉnh. Nghị định cũng thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất đối với cấp phép, cấp đăng ký chuyển giao công nghệ và việc tuân thủ cam kết công nghệ trong suốt dự án. Doanh nghiệp có dự án dùng công nghệ hạn chế chuyển giao, hoặc chuyển giao công nghệ nội bộ tập đoàn, nên rà soát ngay quy trình để đáp ứng mốc thời gian và hồ sơ mới.
Ngày 31/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 44/2024/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ (đường, cầu, hầm, bến bãi, trạm thu phí...). Thay đổi lớn nhất là cơ cấu lại thẩm quyền quản lý theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp: cơ quan quản lý đường bộ và cơ quan, đơn vị quản lý tài sản nay được xác định ở ba cấp là trung ương (Bộ Xây dựng), cấp tỉnh và cấp xã, thay cho cấp huyện đã bị bãi bỏ trước đó. Nghị định sửa đổi quy trình giao tài sản, thẩm quyền phê duyệt các Đề án chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng tài sản, cho thuê quyền khai thác tài sản và chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản đường bộ. Đáng chú ý với doanh nghiệp muốn tham gia đấu giá các quyền này: phải đáp ứng điều kiện năng lực tài chính (doanh thu, lợi nhuận trước thuế tối thiểu 2 năm liền kề theo báo cáo tài chính đã kiểm toán), ký quỹ bảo đảm thực hiện hợp đồng bằng 5% tổng giá trị hợp đồng hoặc bảo lãnh ngân hàng tương đương, và cơ chế nộp bổ sung 50% phần doanh thu vượt 125% so với doanh thu dự kiến khi khai thác thực tế vượt kế hoạch. Toàn bộ số tiền thu được từ các giao dịch này (sau khi trừ chi phí liên quan) phải nộp vào ngân sách nhà nước. Đây là văn bản mang tính chất tổ chức lại thẩm quyền quản lý tài sản công và quy trình đấu giá, nhượng quyền khai thác hạ tầng đường bộ, chủ yếu tác động đến các cơ quan nhà nước quản lý đường bộ và các doanh nghiệp/nhà đầu tư tham gia đấu giá quyền thu phí, quyền khai thác hoặc các dự án đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực hạ tầng giao thông. Nghị định không quy định về thuế, kế toán, hóa đơn điện tử, IFRS, lao động hay hải quan nên ít có tác động trực tiếp đến phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ, trừ khi doanh nghiệp có hoạt động lắp đặt công trình viễn thông, trạm sạc điện trên hạ tầng đường bộ hoặc tham gia đấu giá quyền khai thác tài sản này.
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 12/2026/QĐ-TTg sửa đổi Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) vay vốn tại ngân hàng thương mại. Các thay đổi chính gồm: điều chỉnh phí bảo lãnh (phí thẩm định hồ sơ 500.000 đồng/hồ sơ và phí bảo lãnh 0,5%/năm trên số tiền được bảo lãnh); quy định rõ cơ chế nợ vay bắt buộc bảo lãnh sau khi Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thay cho doanh nghiệp. Quyết định quy định lãi suất nợ vay bắt buộc theo lãi suất cho vay tín dụng đầu tư nhà nước, lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn. VDB được quyền xem xét miễn giảm lãi cho doanh nghiệp đã phá sản hoặc còn khó khăn tài chính. Ngân sách nhà nước không cấp bù lãi suất trong trường hợp này. Đặc biệt, kể từ khi Quyết định có hiệu lực (15/5/2026), VDB dừng triển khai hoạt động bảo lãnh vay vốn mới cho SME theo Quyết định 03/2011/QĐ-TTg. Các hợp đồng đã ký trước đó tiếp tục thực hiện theo cam kết cũ, có thể thỏa thuận điều chỉnh lãi suất và bổ sung bảo đảm.
Bộ Tài chính hướng dẫn về nghĩa vụ thuế TNCN cho hộ kinh doanh (HKD) lập trình phần mềm (mã ngành 6201) thuộc Nhóm 3 theo Nghị định 68/2026/NĐ-CP. Theo Thông tư 40/2021/TT-BTC, hoạt động lập trình và phát hành phần mềm được phân loại là dịch vụ CNTT, áp dụng tỷ lệ 2% trên doanh thu để tính thuế TNCN. Nghị định 68/2026/NĐ-CP về quản lý HKD không thay đổi cách tính thuế TNCN đối với HKD Nhóm 3 - họ vẫn tiếp tục nộp thuế TNCN theo tỷ lệ trên doanh thu theo hướng dẫn của Thông tư 40/2021/TT-BTC. Đối với hoạt động lập trình phần mềm, tỷ lệ 2% vẫn được áp dụng. Thu nhập tính thuế được tính bằng doanh thu nhân với thuế suất 2%, sau đó nhân với biểu thuế lũy tiến từng phần (thuế suất 17% đối với phần thu nhập tương ứng). Bộ Tài chính nhận thấy đặc thù của ngành phần mềm (không có hóa đơn đầu vào vật lý, sản phẩm trí tuệ) và đề nghị HKD báo cáo tình hình kinh doanh cụ thể lên Cục Thuế để được hướng dẫn thêm.
Nghị định 89/2026/NĐ-CP quy định điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới, tổ chức và hoạt động của cơ sở đăng kiểm, cùng niên hạn sử dụng của xe cơ giới. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 và thay thế Nghị định số 166/2024/NĐ-CP. Về điều kiện kinh doanh, cơ sở đăng kiểm xe cơ giới phải đáp ứng diện tích mặt bằng tối thiểu tùy theo số dây chuyền kiểm định (từ 1.250 m2 cho một dây chuyền loại I đến 2.500 m2 cho hai dây chuyền), và phải có tối thiểu 2 đăng kiểm viên, trong đó có lãnh đạo cơ sở và lãnh đạo bộ phận kiểm định có kinh nghiệm từ 60 tháng trở lên. Cơ sở kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy có yêu cầu diện tích và nhân lực thấp hơn. Nghị định cũng quy định chi tiết về cấp, thu hồi giấy chứng nhận kiểm định; các trường hợp tạm đình chỉ hoạt động (01 tháng) hoặc thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định khi cơ sở đăng kiểm vi phạm nghiêm trọng (làm giả hồ sơ, sửa dữ liệu, bị tạm đình chỉ 3 lần trong 12 tháng...). Một nội dung đáng chú ý với doanh nghiệp vận tải là niên hạn sử dụng xe cơ giới: 25 năm đối với xe ô tô tải và xe tải chuyên dùng; 20 năm đối với xe chở người từ 9 chỗ trở lên (không kể lái xe), xe đưa đón học sinh, mầm non, xe chở hàng 4 bánh gắn động cơ; 15 năm đối với xe chở người 4 bánh gắn động cơ. Xe không có hồ sơ xác định năm sản xuất bị coi là hết niên hạn sử dụng. Đây là văn bản mang tính kỹ thuật, an toàn giao thông và điều kiện kinh doanh ngành đăng kiểm, không có nội dung liên quan trực tiếp đến thuế, kế toán, hóa đơn điện tử, lao động hay hải quan.
Bộ Tài chính hướng dẫn rằng khi nhân viên mua hộ hàng hóa, dịch vụ cho doanh nghiệp với từng hóa đơn riêng lẻ dưới 5 triệu đồng nhưng tổng đề nghị thanh toán vượt 5 triệu đồng, thì điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt được xác định theo từng giao dịch (từng lần mua) chứ không phải theo tổng đề nghị thanh toán gộp. Theo điểm c2 khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP, nếu nhân viên được doanh nghiệp ủy quyền mua hộ hàng hóa, dịch vụ từ 5 triệu đồng trở lên và nhân viên thanh toán bằng dịch vụ không dùng tiền mặt, thì chi phí được tính vào chi phí được trừ nếu có đủ hóa đơn, chứng từ và doanh nghiệp thanh toán lại cho nhân viên bằng chuyển khoản. Trường hợp từng hóa đơn dưới 5 triệu và nhân viên thanh toán bằng tiền mặt, điều kiện chứng từ không dùng tiền mặt không bắt buộc cho từng giao dịch đó. Doanh nghiệp cần xây dựng quy chế tài chính nội bộ quy định rõ việc ủy quyền cho nhân viên thanh toán, kèm chứng từ không dùng tiền mặt của nhân viên khi mua hàng và của doanh nghiệp khi thanh toán lại cho nhân viên.
Bộ Tài chính hướng dẫn xác định tiêu chí doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực xây dựng theo khoản 3 Điều 5 Nghị định 80/2021/NĐ-CP. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng phải đồng thời thỏa mãn: lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 200 người; VÀ tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng HOẶC tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng (chọn một trong hai tiêu chí tài chính). Trường hợp doanh nghiệp xây dựng có dưới 40 lao động BHXH nhưng doanh thu trong năm tài chính trên 200 tỷ đồng và tổng nguồn vốn trên 127 tỷ đồng - cả hai tiêu chí tài chính đều vượt ngưỡng - thì doanh nghiệp không đáp ứng tiêu chí doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định pháp luật.
Cục Hải quan trả lời doanh nghiệp hỏi về mức thuế VAT năm 2026 cho hàng nhập khẩu mã HS 8517.62.43 (thiết bị đầu cuối thông tin di động mặt đất). Theo Nghị định 174/2025/NĐ-CP ngày 23/6/2025, chính sách giảm thuế VAT có hiệu lực từ 01/7/2025 đến hết 31/12/2026, nhưng hàng thuộc lĩnh vực viễn thông không thuộc diện được giảm. Cục Hải quan không xác nhận mức thuế suất cụ thể trong văn bản trả lời, mà hướng dẫn doanh nghiệp tự đối chiếu quy định nêu trong Nghị định 174/2025/NĐ-CP và Công văn số 20215/CHQ-NVTHQ ngày 20/8/2025 của Cục Hải quan về việc thực hiện Nghị định này. Trường hợp còn vướng mắc, doanh nghiệp cần liên hệ cơ quan hải quan nơi đăng ký tờ khai để được hướng dẫn chi tiết.
Dau thang 4 nam 2026, Cong ty Co phan Thanh toan Quoc gia Viet Nam (NAPAS), Ngan hang TMCP Ngoai thuong Viet Nam (Vietcombank) va Ant International (Trung Quoc) da ra mat dich vu thanh toan QR xuyen bien gioi, cho phep du khach Trung Quoc thanh toan hang hoa, dich vu tai Viet Nam bang cach quet ma VietQR Global qua vi Alipay. Truoc do mot ngay, Ngan hang TMCP Dau tu va Phat trien Viet Nam (BIDV) cung cong bo dich vu tuong tu cho khach Trung Quoc va Han Quoc. Day la buoc tiep theo sau dot thi diem thanh toan QR xuyen bien gioi trien khai tu thang 12 nam 2025 giua NAPAS, UnionPay International va ICBC, voi hon 30.000 diem chap nhan thanh toan. Bai viet cung diem lai qua trinh hop tac tai chinh Viet Nam - Trung Quoc nhieu nam qua: co che thanh toan bang nhan dan te (RMB) tai 7 tinh bien gioi (Lang Son, Quang Ninh, Ha Giang, Lai Chau, Lao Cai, Cao Bang, Dien Bien) ap dung tu nam 2018, Bien ban ghi nho giua Ngan hang Nha nuoc Viet Nam (SBV) va Ngan hang Nhan dan Trung Quoc (PBOC) ky nam 2024 ve thanh toan noi te va hoan doi tien te, cung nhu dau tu va thuong mai song phuong tang manh (dau tu Trung Quoc vao Viet Nam dat 3,92 ty USD nam 2024, thuong mai hai chieu dat 296 ty USD nam 2025). Day la tin tuc ve ha tang thanh toan va hop tac ngan hang, khong cong bo mot luat, nghi dinh, thong tu hay quyet dinh moi nao, va khong tao ra nghia vu ke khai thue, hoa don hay bao cao moi cho doanh nghiep SME. Cac doanh nghiep ban le, du lich, khach san phuc vu khach Trung Quoc co the huong loi tu viec chap nhan thanh toan QR truc tiep, nhung day thuan tuy la thong tin thi truong, khong phai noi dung phap ly can tuan thu.
Nghị định 93/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 do Chính phủ ban hành để hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15. Nghị định quy định về chức danh nhà giáo (giáo viên mầm non đến giảng viên đại học, giáo sư, phó giáo sư), quy trình bổ nhiệm và xếp lương; tuyển dụng và tiếp nhận nhà giáo. Đây là văn bản pháp lý thuần túy về giáo dục và nhân sự, không có nội dung liên quan đến thuế, tài chính doanh nghiệp, hóa đơn hay hải quan. Phạm vi áp dụng chủ yếu là các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập, cùng các cơ quan quản lý giáo dục.
Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, vừa được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 87/VBHN-VPQH (ngày 27/3/2026) để tích hợp các sửa đổi từ Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh toàn diện hoạt động nghề nghiệp, quyền và nghĩa vụ của nhà giáo ở tất cả các cấp học, từ mầm non đến đại học, áp dụng cho cả cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập. Luật quy định cụ thể về chức danh và chuẩn nghề nghiệp nhà giáo; tuyển dụng, điều động, biệt phái và thuyên chuyển; chính sách tiền lương (lương nhà giáo được xếp cao nhất trong thang bậc lương hành chính sự nghiệp, kèm phụ cấp ưu đãi nghề); chế độ nghỉ hưu (nhà giáo mầm non có thể nghỉ hưu sớm tối đa 5 năm mà không bị trừ tỷ lệ lương hưu; nhà giáo có học hàm giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ có thể nghỉ hưu muộn hơn từ 5 đến 10 năm); đào tạo, bồi dưỡng; hợp tác quốc tế; tôn vinh, khen thưởng và xử lý kỷ luật. Đối với chủ cơ sở giáo dục ngoài công lập (trường tư thục, trung tâm ngoại ngữ, cơ sở đào tạo nghề tư nhân), luật này là căn cứ pháp lý quan trọng khi tuyển dụng, ký kết và chấm dứt hợp đồng lao động, xử lý kỷ luật, tạm đình chỉ giảng dạy và chi trả chế độ đãi ngộ cho đội ngũ giáo viên, giảng viên - vì luật dẫn chiếu trực tiếp đến pháp luật lao động đối với nhóm nhà giáo ngoài công lập. Đối với các nhóm đối tượng khác như kế toán, chủ doanh nghiệp SME ngoài lĩnh vực giáo dục, luật không có tác động trực tiếp đến nghĩa vụ thuế, hóa đơn điện tử hay báo cáo tài chính.
Luật Phòng, chống thiên tai số 33/2013/QH13 vừa được hợp nhất thành Văn bản hợp nhất số 85/VBHN-VPQH, cập nhật đầy đủ các lần sửa đổi qua nhiều năm, gần nhất là Luật số 146/2025/QH15 có hiệu lực từ 01/01/2026. Luật quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân, kể cả tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, trong phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai. Đối với doanh nghiệp, điểm cần lưu ý nhất là nghĩa vụ đóng góp bắt buộc vào Quỹ phòng, chống thiên tai cấp tỉnh: mọi tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài hoạt động trên địa bàn đều phải đóng góp, cùng với công dân Việt Nam từ 18 tuổi đến tuổi nghỉ hưu. Mức đóng, đối tượng miễn, giảm, tạm hoãn do Chính phủ quy định chi tiết. Luật cũng cho phép miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản đóng góp cho phòng, chống thiên tai và khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh sản phẩm bảo hiểm rủi ro thiên tai. Ngoài ra, luật nghiêm cấm hành vi lợi dụng thiên tai để đầu cơ, nâng giá hàng hóa, vật tư nhằm trục lợi. Lần hợp nhất này chủ yếu cập nhật tên gọi cơ quan quản lý (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đổi thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường từ 01/01/2026) và một số quy định kỹ thuật về ngân sách dự phòng, không tạo ra nghĩa vụ mới đáng kể cho doanh nghiệp. Kế toán và chủ doanh nghiệp nên rà soát các khoản đóng góp Quỹ phòng, chống thiên tai đã nộp hằng năm để đối chiếu tên cơ quan quản lý mới khi lập hồ sơ, báo cáo.
Ngày 31/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 354/2025/NĐ-CP quy định chi tiết các nội dung của Luật Công nghiệp công nghệ số về khu công nghệ số tập trung - các khu quy hoạch theo mô hình khu công nghiệp dành riêng cho nghiên cứu, sản xuất và cung cấp dịch vụ công nghệ số, bao gồm cả thiết kế và sản xuất chip bán dẫn. Nghị định đưa ra các tiêu chí bắt buộc để thành lập, mở rộng hoặc công nhận một khu: diện tích tối thiểu (5 héc-ta, hoặc 1 héc-ta đối với khu chỉ chuyên phần mềm, nội dung số), nhân lực tối thiểu (2.000 lao động, hoặc 1.000 lao động đối với khu chỉ chuyên phần mềm - dịch vụ, với ít nhất 60% là lao động ngành công nghệ số), yêu cầu về quy hoạch phân khu chức năng (ít nhất 50% diện tích dành cho hoạt động công nghệ số cốt lõi), và tiêu chuẩn hạ tầng (internet tốc độ cao, 5G/6G, nguồn điện dự phòng, xử lý nước thải đạt chuẩn loại A, tuân thủ an ninh mạng). Nghị định cũng quy định trình tự phê duyệt, thẩm quyền (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với dự án vốn doanh nghiệp) và hồ sơ cần thiết. Nội dung này chủ yếu liên quan đến các doanh nghiệp lớn, nhà phát triển bất động sản - hạ tầng, và nhà đầu tư nước ngoài có kế hoạch xây dựng hoặc vận hành khu công nghệ số, cơ sở bán dẫn, hoặc khu phần mềm - dịch vụ công nghệ thông tin quy mô lớn tại Việt Nam. Đây không phải là quy định về thuế, kế toán hay hóa đơn và không có tác động tuân thủ trực tiếp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa hay hộ kinh doanh thông thường.
Ngày 31/12/2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư 72/2025/TT-NHNN, hướng dẫn việc doanh nghiệp thành viên và nhà đầu tư nước ngoài sử dụng tài khoản ngoại tệ để thực hiện hoạt động ngoại hối tại Trung tâm Tài chính Quốc tế (TTTC) tại Việt Nam. Thông tư này hướng dẫn thi hành Nghị quyết 222/2025/QH15 của Quốc hội về TTTC và Nghị định 329/2025/ND-CP về cấp phép ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền tại TTTC. Thông tư điều chỉnh hai loại tài khoản: tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ của doanh nghiệp thành viên, và tài khoản vốn của doanh nghiệp thành viên hoặc nhà đầu tư nước ngoài. Văn bản quy định chi tiết, theo từng điều, những khoản tiền được phép thu và chi qua mỗi loại tài khoản - ví dụ như nhận vốn góp từ nhà đầu tư, thu tiền từ các dịch vụ được phép cung cấp trong TTTC, chuyển lợi nhuận về nước, rút vốn vay và trả nợ vay nước ngoài, trả lương cho lao động nước ngoài, và chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài hoặc vào phần còn lại của Việt Nam. Một quy định riêng về «minh bạch dòng tiền» yêu cầu mọi lệnh chuyển tiền liên quan đến khoản vay hoặc giao dịch đầu tư phải ghi rõ mục đích và số hợp đồng, thỏa thuận liên quan, để ngân hàng có cơ sở xác minh giao dịch đúng như khai báo. Thông tư áp dụng cho doanh nghiệp thành viên và nhà đầu tư nước ngoài hoạt động tại TTTC, bên vay trong nước vay vốn từ thành viên TTTC, và các ngân hàng (ngân hàng thành viên và tổ chức tín dụng Việt Nam) cung cấp các tài khoản này. Ngân hàng phải thu thập hồ sơ chứng minh, đối chiếu lệnh chuyển tiền với mục đích đã khai báo, và tuân thủ pháp luật phòng chống rửa tiền trước khi thực hiện giao dịch. Thông tư cũng sửa đổi, bổ sung Thông tư 16/2014/TT-NHNN, thêm hai giao dịch được phép mới (rút vốn vay và trả nợ vay liên quan đến thành viên TTTC) vào quy định chung về tài khoản ngoại tệ của người cư trú và người không cư trú. Đối với phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động ngoài TTTC, Thông tư này không có tác động trực tiếp. Văn bản chủ yếu liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài dự định tham gia TTTC Việt Nam, doanh nghiệp muốn trở thành thành viên TTTC, và các ngân hàng phục vụ nhóm khách hàng này - các đối tượng này nên nghiên cứu kỹ trước khi mở hoặc sử dụng tài khoản liên quan đến TTTC. Thông tư có hiệu lực kể từ ngày ký, 31/12/2025.
Ngày 31/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 106/2026/NĐ-CP quy định về đầu tư xây dựng, quản lý khai thác cảng cạn (ICD), có hiệu lực từ ngày 15/5/2026 và thay thế Nghị định số 38/2017/NĐ-CP. Nghị định áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài tham gia đầu tư, xây dựng, quản lý hoặc khai thác cảng cạn - loại hình hạ tầng đóng vai trò đầu mối vận tải gắn với cảng biển, cảng hàng không, đường thủy nội địa, đường sắt và cửa khẩu đường bộ, đồng thời có chức năng như một cửa khẩu làm thủ tục hải quan cho hàng xuất nhập khẩu. Văn bản quy định rõ tiêu chí xác định cảng cạn (diện tích tối thiểu 5 ha đối với cảng cạn hình thành mới), các hạng mục hạ tầng bắt buộc, danh mục dịch vụ được cung cấp tại cảng cạn (bốc xếp, lưu kho bãi, đại lý hải quan, kiểm dịch, đóng gói, gia công...), cũng như trình tự, thủ tục, thời hạn cụ thể để công bố mở cảng cạn, tạm dừng hoạt động hoặc đóng cảng cạn. Nghị định cũng phân định rõ trách nhiệm phối hợp giữa Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, cơ quan hải quan, kiểm dịch và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý nhà nước đối với hoạt động cảng cạn. Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà đầu tư hạ tầng logistics, doanh nghiệp khai thác cảng cạn và doanh nghiệp xuất nhập khẩu sử dụng dịch vụ tại cảng cạn, Nghị định đặt ra các nghĩa vụ cụ thể như: nộp hồ sơ công bố mở cảng cạn qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, niêm yết giá dịch vụ công khai, kết nối dữ liệu với cơ chế một cửa quốc gia, và báo cáo định kỳ tình hình hoạt động cho Bộ Xây dựng trước ngày 20/12 hàng năm. Doanh nghiệp đang đầu tư hoặc khai thác cảng cạn, cũng như doanh nghiệp logistics sử dụng cảng cạn để thông quan hàng hóa, nên rà soát lại quy trình nội bộ để phù hợp với các mốc thời gian và hồ sơ mới trước ngày Nghị định có hiệu lực.
Nghị định 98/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực bảo trợ xã hội, trợ giúp xã hội và bảo vệ trẻ em. Căn cứ pháp lý bao gồm Luật Xử lý vi phạm hành chính và các luật chuyên ngành về trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và phòng chống mua bán người. Các hành vi vi phạm bị xử phạt bao gồm: vi phạm trong nhận chăm sóc, nuôi dưỡng (lợi dụng trục lợi, ép buộc lao động nặng nhọc, dụ dỗ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật); và vi phạm hoạt động các cơ sở bảo trợ xã hội. Mức phạt tiền lên đến 40 triệu đồng cho các vi phạm nghiêm trọng. Văn bản này không liên quan đến nghĩa vụ thuế hoặc hóa đơn của doanh nghiệp.
Bộ Tài chính ban hành Thông tư 39/2026/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí và lệ phí áp dụng tại các cảng, bến thủy nội địa (bao gồm cả cảng, bến chuyên dùng). Thông tư quy định bốn loại thu: phí trọng tải tàu thuyền (165 đồng/tấn/lượt vào và ra), lệ phí ra vào cảng bến (từ 5.000 đến 50.000 đồng/chuyến tùy trọng tải), phí trình báo đường thủy nội địa và phí bảo đảm hàng hải đối với tàu biển. Các phương tiện được miễn phí gồm: tàu thuyền quốc phòng, an ninh, hải quan đang làm nhiệm vụ; phương tiện tránh bão, cấp cứu; phương tiện chở hàng dưới 10 tấn hoặc chở khách dưới 13 ghế; và phương tiện vận chuyển hàng cứu trợ lụt bão. Phương tiện vào cảng không để bốc dỡ hàng hoặc nhận khách chỉ nộp 70% mức phí trọng tải. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/4/2026, thay thế Thông tư số 248/2016/TT-BTC. Toàn bộ phí thu được nộp 100% vào ngân sách nhà nước.
Ngày 31/3/2026, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 525/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình đào tạo, bồi dưỡng 10.000 giám đốc điều hành (CEO) đến năm 2030, do Bộ Tài chính chủ trì thực hiện. Chương trình nhằm nâng cao năng lực quản trị hiện đại, tư duy chiến lược, khả năng chuyển đổi số và chuyển đổi xanh cho đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trên cả nước, với mục tiêu tối thiểu 25% học viên là nữ. Đối tượng thụ hưởng gồm chủ tịch, thành viên hội đồng quản trị/hội đồng thành viên, tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, trưởng phó phòng ban chuyên môn của doanh nghiệp tư nhân (không bao gồm doanh nghiệp nhà nước hoặc một số tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài thuộc diện loại trừ). Chương trình cung cấp 5 loại khóa đào tạo (lãnh đạo cấp chiến lược, CEO tổng quát, giám đốc chuyên môn như CFO/COO/CMO/CTO, Mini MBA, và lãnh đạo kế cận), thời lượng 30-90 ngày tùy khóa, được hỗ trợ qua ba hình thức: Phiếu học bổng do nhà nước cấp, khóa đào tạo do cơ quan nhà nước đặt hàng, hoặc học trực tuyến qua Hệ thống E-learning của Bộ Tài chính. Mỗi doanh nghiệp được cử tối đa 5 học viên/năm, ưu tiên học viên nữ và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, công nghệ cao, vùng khó khăn. Kinh phí lấy từ ngân sách nhà nước (trung ương và địa phương theo phân cấp), kết hợp nguồn lồng ghép từ các chương trình khác và nguồn đóng góp tự nguyện từ doanh nghiệp, tổ chức. Quyết định có hiệu lực ngay từ ngày ký (31/3/2026). Đây là chương trình hỗ trợ đào tạo nhân lực tự nguyện, không phải quy định về thuế, kế toán, hóa đơn hay lao động, nên doanh nghiệp cần lưu ý đây là cơ hội tiếp cận đào tạo miễn phí hoặc trợ giá chứ không phát sinh nghĩa vụ tuân thủ mới.
Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư 08/2026/TT-BKHCN hướng dẫn việc xác thực thông tin thuê bao di động mặt đất theo Nghị định 163/2024/NĐ-CP. Thông tư yêu cầu doanh nghiệp viễn thông phân loại và xác thực thông tin thuê bao căn cứ vào giấy tờ đăng ký. Chỉ được cung cấp dịch vụ viễn thông cho số thuê bao đã hoàn thành đăng ký và xác thực thông tin theo đúng quy định. Nội dung chủ yếu mang tính kỹ thuật viễn thông và quản lý dữ liệu cá nhân, không liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ thuế hay tài chính của doanh nghiệp SME.
Chính phủ ban hành Nghị định 94/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe, bao gồm: điều kiện kinh doanh cơ sở đào tạo lái xe ô tô, tiêu chuẩn giáo viên, trình tự cấp chứng nhận giáo viên và giấy phép đào tạo; điều kiện và phân loại trung tâm sát hạch lái xe (loại 1, 2, 3); điều kiện sân tập lái để sát hạch mô tô. Nghị định này mang tính quy phạm hành chính về giao thông vận tải, không liên quan trực tiếp đến thuế hay tài chính doanh nghiệp SME.
Ngày 30/3/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 34/2026/TT-BTC quy định đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của các dịch vụ trong lĩnh vực chứng khoán do Nhà nước định giá, áp dụng cho Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX) và công ty con, cùng Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) và công ty con. Phụ lục kèm theo liệt kê chi tiết từng loại dịch vụ, từ quản lý thành viên, đăng ký và quản lý niêm yết, tổ chức hệ thống giao dịch (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, công cụ nợ, chứng khoán phái sinh), kết nối trực tuyến, đấu giá - dựng sổ, đấu thầu trái phiếu Chính phủ, đến các dịch vụ lưu ký, chuyển khoản, thực hiện quyền, bù trừ - thanh toán và đăng ký biện pháp bảo đảm tại VSDC. Mỗi dịch vụ được mô tả cụ thể để làm căn cứ cho Nhà nước xây dựng khung giá. Đây là văn bản mang tính kỹ thuật, phục vụ công tác định giá dịch vụ nội bộ của hai đơn vị hạ tầng thị trường chứng khoán (VNX và VSDC), không trực tiếp đặt ra nghĩa vụ thuế, kế toán hay tuân thủ mới cho phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đối tượng chịu tác động trực tiếp là các công ty chứng khoán, tổ chức niêm yết và nhà đầu tư sử dụng dịch vụ của VNX/VSDC. Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/5/2026.
Thông tư 28/2026/TT-BTC (hiệu lực từ 01/4/2026) do Bộ Tài chính ban hành, cập nhật toàn bộ biểu phí và lệ phí trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam, thay thế Thông tư 25/2021/TT-BTC. Văn bản áp dụng cho cả công dân Việt Nam (lệ phí hộ chiếu, giấy thông hành, giấy phép xuất cảnh) và người nước ngoài (phí thị thực, thẻ tạm trú, thẻ thường trú). Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc thuê lao động, chuyên gia nước ngoài, đây là văn bản cần lưu ý vì quy định trực tiếp chi phí xin thị thực (25-165 USD tùy loại), thẻ tạm trú (145-165 USD) và thẻ thường trú (100 USD) cho nhân sự nước ngoài - những khoản chi phí thường xuyên trong ngân sách nhân sự và tuân thủ của doanh nghiệp FDI. Thông tư cũng quy định rõ nguyên tắc hoàn trả phí khi hồ sơ không đủ điều kiện cấp giấy tờ. Kế toán và bộ phận nhân sự nên cập nhật biểu phí mới này khi lập dự trù chi phí xin visa, gia hạn tạm trú cho chuyên gia, nhà đầu tư nước ngoài làm việc tại Việt Nam từ ngày 01/4/2026.
Đây là văn bản hợp nhất (Số 20/VBHN-BCT, ngày 30/3/2026) của Thông tư số 38/2025/TT-BCT về phân cấp thực hiện thủ tục hành chính trong các lĩnh vực do Bộ Công Thương quản lý, đã được cập nhật theo các lần sửa đổi gần nhất, trong đó quan trọng nhất là Thông tư số 15/2026/TT-BCT (hiệu lực từ 10/4/2026). Nội dung chính là phân định lại thẩm quyền cấp phép, cấp giấy chứng nhận giữa các Cục thuộc Bộ Công Thương (Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp, Cục Hóa chất, Cục Đổi mới sáng tạo - Chuyển đổi xanh và Khuyến công...) và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (bỏ cấp huyện) đang được triển khai. Phạm vi sửa đổi trải rộng qua nhiều lĩnh vực: vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ, an toàn - vệ sinh lao động, kinh doanh khí (LPG), an toàn dầu khí, an toàn đập - hồ chứa thủy điện, hóa chất và vận chuyển hàng hóa nguy hiểm, chất lượng sản phẩm hàng hóa, giám định thương mại, dán nhãn năng lượng tiết kiệm, an toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm Bộ Công Thương, văn phòng đại diện - chi nhánh thương nhân nước ngoài, kinh doanh đa cấp và thương mại điện tử. Xu hướng chung là chuyển nhiều thủ tục cấp phép từ Sở Công Thương hoặc các Cục Trung ương về Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Với doanh nghiệp đang hoạt động trong các lĩnh vực nêu trên, điểm cần lưu ý là cơ quan tiếp nhận hồ sơ, gia hạn hoặc cấp lại giấy phép có thể đã thay đổi kể từ 10/4/2026, nên cần xác nhận lại đầu mối trước khi nộp hồ sơ mới. Các giấy phép, chứng nhận đã cấp trước thời điểm này vẫn còn hiệu lực đến hết thời hạn ghi trên giấy phép, và hồ sơ đã nộp trước ngày Thông tư có hiệu lực tiếp tục được xử lý theo quy định cũ. Đây chủ yếu là thay đổi về đầu mối thủ tục hành chính, không phát sinh nghĩa vụ tuân thủ mới về thuế, kế toán hay hóa đơn.
Ngày 28/3/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 11/2026/QĐ-TTg quy định Danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia, có hiệu lực từ ngày 19/5/2026. Quyết định liệt kê 20 cơ sở dữ liệu quốc gia mà các bộ, ngành phải xây dựng, quản lý và kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc theo Nghị định 278/2025/NĐ-CP, bao gồm các cơ sở dữ liệu về dân cư, đất đai, y tế, giáo dục, cán bộ công chức viên chức, an sinh xã hội, lưu trữ, thủ tục hành chính, hoạt động xây dựng, biến đổi khí hậu, trí tuệ nhân tạo, xuất nhập cảnh, xử lý vi phạm hành chính, kiểm soát tài sản thu nhập, danh tính điện tử và định danh địa điểm. Đối với doanh nghiệp và kế toán viên, hai mục đáng chú ý nhất là Cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính và Cơ sở dữ liệu quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp, cả hai đều do Bộ Tài chính chủ quản. Việc tích hợp các cơ sở dữ liệu chuyên ngành tài chính (bao gồm dữ liệu thuế, hải quan, đăng ký kinh doanh) vào một kho dữ liệu tổng hợp quốc gia là bước chuẩn bị hạ tầng cho việc kết nối, chia sẻ dữ liệu tự động giữa cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan nhà nước khác trong tương lai, có thể ảnh hưởng đến cách doanh nghiệp khai báo, xác thực thông tin khi làm thủ tục hành chính. Quyết định không đặt ra nghĩa vụ tuân thủ mới trực tiếp nào cho doanh nghiệp; trách nhiệm xây dựng, cập nhật và kết nối dữ liệu thuộc về các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đây là văn bản nền tảng về kiến trúc dữ liệu quốc gia mà doanh nghiệp, kế toán viên nên theo dõi vì nó định hình hạ tầng dữ liệu sẽ được cơ quan thuế, hải quan và đăng ký kinh doanh sử dụng trong các năm tới.
Bộ Tài chính giải đáp về nơi nộp tờ khai quyết toán thuế TNCN (mẫu 02/QT-TNCN) cho cá nhân có thu nhập từ nhiều tổ chức chi trả thuộc nhiều tỉnh thành khác nhau. Theo Điều 11 Thông tư 105/2020/TT-BTC và Điều 11 Nghị định số 24/2025/NĐ-CP về quản lý thuế: cá nhân tự quyết toán thuế TNCN nộp tờ khai tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức trả thu nhập có số thuế khấu trừ lớn nhất trong năm. Áp dụng cho tình huống nêu: cá nhân có 30 nguồn thu tại tỉnh A (tổng 3 tỷ, mỗi nguồn 100 triệu) và 5 nguồn thu tại tỉnh B (1 nguồn 600 triệu). Theo quy định, cá nhân phải xác định tổ chức trả thu nhập có số thuế TNCN đã khấu trừ lớn nhất - nếu tổ chức tại tỉnh B khấu trừ nhiều nhất thì nộp tại tỉnh B; nếu tổ chức nào đó tại tỉnh A khấu trừ nhiều nhất thì nộp tại tỉnh A. Cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức chi trả (không phải nơi cư trú của cá nhân) là nơi xác định nộp tờ khai. Trường hợp có số thuế nộp thêm, nộp tại đó; nếu hoàn thuế, làm thủ tục tại nơi nộp tờ khai.
Bộ Tài chính hướng dẫn về cách tính tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất (CMCĐ) từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở, dựa trên Nghị quyết 245 của Quốc hội và Nghị định 50/2026/NĐ-CP. Theo quy định, khi tính tiền sử dụng đất đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở: diện tích đất ở đã được công nhận trước đó sẽ được trừ khỏi hạn mức để xác định phần còn trong hạn mức. Áp dụng cho tình huống: thửa đất 667 m² gồm 300 m² đất ở đã công nhận và 367 m² đất trồng cây lâu năm; hạn mức giao đất ở tại địa phương là 200 m²; nay chuyển mục đích 200 m² đất trồng cây. Vì 300 m² đất ở đã công nhận đã vượt hạn mức 200 m², toàn bộ 200 m² chuyển mục đích sẽ bị tính tiền sử dụng đất theo mức thu ngoài hạn mức (tức 100% giá đất, không được hưởng mức ưu đãi 30%). Cần xác minh cụ thể với Cục Thuế Hải Phòng.
Đây là văn bản hợp nhất do Bộ Xây dựng ban hành, gộp Thông tư số 05/2024/TT-BXD (hiệu lực từ 01/8/2024) cùng ba lần sửa đổi, bổ sung sau đó (Thông tư 09/2025/TT-BXD, 32/2025/TT-BXD và 08/2026/TT-BXD) thành một bản duy nhất để dễ tra cứu. Nội dung hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Nhà ở năm 2023, gồm: quy định cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam phải gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã trước khi cho thuê nhà; điều kiện xây dựng nhà ở nhiều tầng nhiều căn hộ để cho thuê (giấy phép xây dựng, phòng cháy chữa cháy); các mẫu giấy tờ chứng minh đối tượng và điều kiện thu nhập, nhà ở để được mua, thuê mua nhà ở xã hội hoặc vay vốn ưu đãi xây, sửa nhà; công thức tính kinh phí xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở cấp tỉnh; các mẫu hợp đồng mua bán, thuê, thuê mua nhà ở xã hội và nhà ở tái định cư; và chương trình khung đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý vận hành nhà chung cư, kèm theo Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư đầy đủ. Vì là văn bản hợp nhất (không phải thông tư mới), bản thân nó không tạo thêm nghĩa vụ pháp lý mới mà chỉ trình bày lại các quy định hiện hành theo Luật Nhà ở dưới dạng thống nhất, dễ đọc. Đối tượng chịu tác động chủ yếu là doanh nghiệp bất động sản, chủ đầu tư dự án nhà ở, đơn vị quản lý vận hành chung cư, Ban quản trị nhà chung cư, cá nhân hoặc hộ gia đình có nhu cầu mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội, và cá nhân nước ngoài sở hữu nhà tại Việt Nam. Nội dung này thuộc lĩnh vực nhà ở, xây dựng và bất động sản, không liên quan trực tiếp đến các nghĩa vụ về thuế GTGT, thuế TNDN, hóa đơn điện tử, lao động hay hải quan mà RegHub tập trung theo dõi cho chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ, kế toán viên. Do đó, tài liệu này được đánh giá là nằm ngoài phạm vi nội dung cốt lõi của nền tảng.
Văn bản hợp nhất 18/VBHN-BXD do Bộ Xây dựng công bố ngày 24/3/2026 gộp Nghị định 178/2025/NĐ-CP (hiệu lực từ 01/7/2025) và Nghị định sửa đổi 34/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ 22/01/2026), quy định chi tiết việc lập, thẩm định, phê duyệt các loại quy hoạch đô thị và nông thôn theo Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn 2024. Nghị định quy định thời hạn lập quy hoạch chung (từ 9 đến 15 tháng tùy cấp phê duyệt), quy hoạch phân khu (tối đa 9 tháng) và quy hoạch chi tiết (tối đa 6 tháng); điều kiện năng lực, chứng chỉ hành nghề của tổ chức tư vấn và cá nhân tham gia lập quy hoạch; trình tự xử lý khi các quy hoạch cùng cấp độ mâu thuẫn nhau. Một nội dung đáng chú ý với nhà đầu tư là cơ chế «quy hoạch tổng mặt bằng» theo quy trình rút gọn, cho phép các lô đất nhỏ (dưới 2 ha với dự án chung cư, dưới 10 ha với nhà máy hoặc cơ sở sản xuất, dưới 5 ha với các dự án khác) được chấp thuận quy hoạch trong 15 ngày mà không cần lập, thẩm định quy hoạch chi tiết đầy đủ. Nghị định cũng sửa đổi thuật ngữ tại nhiều nghị định liên quan (kinh doanh bất động sản, nhà ở, khu công nghiệp và khu kinh tế, khu công nghệ cao, hệ thống cơ sở dữ liệu xây dựng) để thống nhất dùng khái niệm 'quy hoạch đô thị và nông thôn' thay cho 'quy hoạch xây dựng'. Đây chủ yếu là văn bản điều chỉnh trình tự, thủ tục hành chính trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng và triển khai dự án bất động sản, công nghiệp; văn bản không quy định về thuế, kế toán, hóa đơn điện tử, lao động hay hải quan. Doanh nghiệp có dự án đầu tư xây dựng, đặc biệt nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp bất động sản, công nghiệp, nên tham khảo khi cần làm thủ tục chấp thuận quy hoạch cho dự án của mình.
Nghị định 92/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 31/3/2026, quy định các chế độ, chính sách đặc thù áp dụng đối với Ban Điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam, Bộ phận Giúp việc và Hội đồng Tư vấn của Trung tâm. Nghị định quy định mức phụ cấp cho Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thành viên Ban Điều hành khi làm việc bán thời gian (bằng 50% lương hiện hưởng) hoặc toàn thời gian (Chủ tịch được thêm phụ cấp bằng 80% lương hiện hưởng, cùng các chế độ về nhà ở, xe đưa đón, khen thưởng theo Nghị định 231/2025/NĐ-CP). Đối với cán bộ, công chức, viên chức được tuyển dụng hoặc biệt phái làm việc tại Bộ phận Giúp việc, Nghị định cho phép hưởng thêm phụ cấp hằng tháng bằng 80% lương hiện hưởng; người có tài năng nổi trội có thể được hưởng phụ cấp lên tới 150% lương theo Nghị định 179/2024/NĐ-CP. Chuyên gia trong nước và quốc tế tham gia Hội đồng Tư vấn làm việc theo hợp đồng lao động, mức lương do Chủ tịch Ban Điều hành quyết định dựa trên yêu cầu công việc, năng lực và kinh nghiệm. Đây là văn bản mang tính tổ chức, nhân sự nội bộ nhằm thu hút nhân tài quản lý, vận hành Trung tâm Tài chính Quốc tế - không quy định trực tiếp về thuế, kế toán, hóa đơn, hải quan hay nghĩa vụ tuân thủ đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh hay nhà đầu tư nước ngoài. Do đó nội dung này chủ yếu mang tính tham khảo, không ảnh hưởng trực tiếp đến nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thông tư số 11/2026/TT-BKHCN do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành ngày 31/3/2026 quy định các biểu mẫu hồ sơ dùng trong thủ tục thẩm định công nghệ đối với trường hợp đặc thù, và thủ tục Nhà nước mua, phổ biến công nghệ. Thông tư này hướng dẫn thi hành Nghị định số 101/2026/NĐ-CP (cùng ngày ban hành), vốn quy định chi tiết Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 115/2025/QH15) và Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15. Văn bản ban hành 10 mẫu biểu đính kèm Phụ lục, bao gồm: đơn đề nghị thẩm định, thuyết minh công nghệ, thông báo dự toán kinh phí thẩm định, quyết định thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định, phiếu nhận xét đánh giá của thành viên hội đồng, biên bản họp hội đồng, biên bản đánh giá thử nghiệm thực tế, thông báo kết quả thẩm định, đề án mua và phổ biến công nghệ, và báo cáo thẩm định đề án mua và phổ biến công nghệ. Đối tượng áp dụng gồm cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ trong hoạt động chuyển giao công nghệ, tổ chức/cá nhân có nhu cầu thẩm định công nghệ trong trường hợp đặc thù, bên chuyển giao, bên nhận chuyển giao, phổ biến công nghệ. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/4/2026. Đây là văn bản hành chính thuần túy về mẫu biểu thủ tục khoa học công nghệ, không tạo ra nghĩa vụ mới về thuế, kế toán, hóa đơn, lao động hay hải quan đối với doanh nghiệp nói chung.
Nghị định số 369/2025/NĐ-CP, ban hành ngày 31/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 36/2025/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ. Nghị định bãi bỏ nhiệm vụ «kiểm soát thủ tục hành chính» của Văn phòng Chính phủ - chức năng này cùng một số nhiệm vụ thanh tra liên quan được chuyển giao cho các cơ quan khác (Cục Chuyển đổi số thuộc Văn phòng Chính phủ và Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Bộ Tư pháp). Nghị định cũng quy định lại cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ gồm 17 đơn vị trực thuộc, trong đó có Vụ Tổng hợp, Vụ Pháp luật, các vụ kinh tế ngành, Cục Chuyển đổi số và Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Điều khoản chuyển tiếp cho phép Vụ Đổi mới doanh nghiệp và Cục Kiểm soát thủ tục hành chính hiện hữu tiếp tục hoạt động theo quy định hiện hành cho đến khi các bộ trưởng có thẩm quyền ban hành quyết định quy định chức năng của các đơn vị kế thừa. Đây thuần túy là một đợt sắp xếp lại bộ máy hành chính nội bộ. Nghị định không tạo ra, sửa đổi hay bãi bỏ bất kỳ nghĩa vụ nào về thuế, hóa đơn, hải quan, lao động hay đầu tư đối với doanh nghiệp, do đó chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ và kế toán viên không cần thực hiện hành động gì.